Author: giangnguyen

  • Nhân vật – Personas

    (bài viết mang tính chất tổng hợp để học, không có giá trị đúng sai, vui lòng không mang đi đâu).

    Persona là gì?

    Personas là một công cụ UX hữu ích để tóm tắt dữ liệu nghiên cứu về mong muốn, nhu cầu, hành vi của người dùng. Các nhà thiết kế tạo ra các hồ sơ nhân vật để nhân cách hóa những phát hiện và hiểu biết của họ cho các bên liên quan của dự án. Điều này là để giúp hướng dẫn việc ra quyết định của họ đối với việc đáp ứng nhu cầu của người dùng.

    Các loại Persona:

    Theo Anthony, về khả năng xài lại của Persona

    Nguồn: https://uxmovement.com/thinking/the-big-problem-with-personas/)

    Wordy persona

    Persona truyền thống gồm các phần sau:

    • A written bio
    • Demographics
    • Stock photo
    • Personality attributes
    • Motivations, Goals, Frustrations, etc

    Hạn chế: khó tra cứu và không tái sử dụng được. Tốn nhiều thời gian để làm, nhưng các bên liên quan không thèm ngó. Do đó, ta có loại persona thứ 2 là Reinventing Persona

    Reinventing Personas

    Để persona dùng được, cần loại bỏ các yếu tố gây nhiễu và chỉ tập trung vào những điều thiết yếu. Persona cần có 5 điểm thiết yếu sau:

    1. Concise snippets of information (context)
    2. Clarity on who the persona represents (context)
    3. Insight into user goals and priorities (user goals)
    4. Details about their tasks that frustrate them (paint points – task-oriented needs)
    5. Details about their tasks that delight them (pleasure points – task-oriented needs)

    persona-patterns-anatomy.png

    Theo Lene Nielsen , phân loại theo các cách tiếp cận persona

    (Nguồn: Personas)

    1. Goal directed persona

    9b41e7956f74eb1629d4c189f193097b.jpg

    2. Role-based persona

     

    3. Engaging persona

    8f9de451987dcf58884332b56b51a62f.jpg

    4. Fictional persona

    Dựa trên giả định của team design, có thể xem như bản nháp đầu tiên, cần được verify lại.

    Một dạng persona khác lượm trên mạng:

    main-qimg-5b82777b13aae3344423c26b1148a084-c.jpeg

    Các bước để tạo ra persona:

    1. Quora: https://www.quora.com/Whats-the-best-way-to-define-personas

    2. https://www.interaction-design.org/literature/article/personas-why-and-how-you-should-use-them

    3dae7b545b1b8323dd21b07333ab6643.jpg

    Tài liệu tham khảo, copy các thể loại:

    https://www.quora.com/Whats-the-best-way-to-define-personas (và một lô related links)

    The Big Problem with Personas

    What makes a good persona?

    https://www.forbes.com/sites/forbesagencycouncil/2018/03/14/how-to-craft-the-ideal-user-persona-for-your-brand/#5f6bda2b6ead

    Tổng hợp: Trà Giang

  • Lời mào đầu khi hỏi về tính khả dụng (Usability Testing) để nhận được phản hồi chân thành

    Câu giới thiệu thảo mai thường thấy trong các buổi kiểm tra tính khả dụng mà tôi (tác giả) gặp quài quài khi đi ngâm cứu về tính khả dụng:

    “Please give your open and honest feedback. I didn’t design this so don’t feel like you need to sugarcoat anything. You won’t hurt my feelings.”

    (Mong bạn phản hồi cởi mở và chân thành. Tôi không thiết kế những thứ này, nên bạn không cần phải thảo mai về điều gì cả. Bạn không làm tôi thấy tổn thương đâu.)

    Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra ở đây: liệu việc tách bạch là tôi không liên quan tới thiết kế đó, dù là nói thật hay không, có phải là cách tốt nhất để khuyến khích những người tham gia đưa ra những phản hồi cởi mở và chân thành?

    Tôi đã tiến hành vài ngâm cứu và tìm ra vài thứ sau:

    Đóng khung vấn đề

    Mấy dòng giới thiệu đầu buổi test không nhằm nhò gì mấy để khuyến khích người dùng đưa ra phản hồi cởi mở hết. Với đa số bà con, đưa phản hồi chả thoải mái gì cho dù ở trường hợp lý tưởng đến thế nào, chưa kể là đưa cho thằng cha ất ơ mới gặp nào đó nữa chớ. Nhưng sự thật không bị che giấu là thứ sống còn cho thành công của dự án của khách hàng!

    Khách hàng không trả tiền để xác nhận mấy thứ họ làm tốt rồi. Họ muốn thấy mấy lỗi chủ quan (human error), nghe ý kiến thực tế về thứ đang không hoạt động trước khi quăng người vô dự án làm. Nhưng, trong môi trường phòng lab, đối diện với cái gương hai chiều, bản năng con người trỗi dậy và người ta có xu hướng làm hài lòng.

    Trong thí nghiệm của tôi, mấy câu giới thiệu mẫu mực ngăn cản sự cởi mở và chân thành mà đáng lẽ mấy câu này nên khơi gợi ra. Khi tôi nhắc người tham gia nhớ là một người đã dành thời gian, công sức vào thiết kế này để khiến họ buồn lòng, tôi đang mồi để đo lường phản hồi của họ.

    Họ vẫn e dè nói thẳng, thường rào đón câu trả lời của mình để giảm nhẹ tầm ảnh hưởng (ví dụ: Có lẽ chỉ có mình tôi thôi, nhưng…). Điều này dẫn đến những phản hồi không hiệu quả làm mờ và giảm thiểu ảnh hưởng của vấn đề thiết kế lên user.

    Thí nghiệm

    Tôi tiến hành thử nghiệm này trên 10 buổi kiểm tra tính khả dụng trên một prototype trên InVision mà tôi đã thiết kế. Khách hàng duyệt cho sự thay đổi trên kịch bản. Các phiên kéo dài một giờ tại phòng nghiên cứu tính khả dụng của LiquidHub. Không có khách hàng ở phòng quan sát.

    Những thay đổi và thành công của chúng

    Tôi thử vài thay đổi trên câu giới thiệu, Nếu thành công, câu mới sẽ khơi gợi người tham gia đưa ra phản hồi trung thực mà không suy tính ý kiến của họ với nỗi sợ đề phòng.

    Câu này không đem đến tác dụng tốt:

    “We’re going to look at a prototype that I designed. I put time and energy into coming up with ideas, but I need your feedback to make it the best version it can be.”

    “Chúng ta sẽ xem một prototype mà tôi đã thiết kế. Tôi đã dành thời gian và công thức để đưa ra những ý tưởng này, nhưng tôi cần phản hồi của bạn để biến nó thành phiên bản tốt nhất có thể.”

    Câu này không hiệu quả vì nó đặt áp lực không hợp lý lên người tham gia để giúp tôi hoàn thành công việc. Với lại, việc định hình tôi là một người thiết kế thuần túy, thiết lập một phong thái đối kháng (ví dụ: ý kiến của bạn và ý tưởng của tôi).

    Đây là phiên bản có tác dụng tốt nhất:

    usability-testing_quote

    “My job is to help the client make this as amazing as possible. We’ve had some ideas already. And when we brainstormed, we put all our ideas in the design without judgement. You will help me figure out which ideas are great, which are duds, and come up with new ideas we didn’t think of.”

    “Công việc của tôi là giúp khách hàng biến thứ này thành thứ tốt nhất có thể. Chúng tôi đã có một vài ý tưởng. Và khi chúng tôi động não, chúng tôi đã đưa ra tất cả những ý kiến này vào thiết kế mà không có suy xét gì cả. Bạn sẽ giúp chúng tôi chỉ ra những ý tưởng nào là tốt, tồi, và đưa ra những ý tưởng mới mà chúng tôi chưa từng nghĩ đến.”

    Tại sao câu mới này lại có tác dụng?

    Tôi đã học được rằng dòng mới này thay đổi cách người tham gia tiếp cận toàn bộ tương tác trong bài kiểm tra tính khả dụng. Với câu mới, những người tham gia bắt đầu hành động như một đối tác thiết kế, áp dụng tư duy giải quyết vấn đề thay vì chỉ phản ứng với thiết kế như một sự kích thích.

    Những người tham gia đã thoải mái hơn khi dẫn dắt cuộc thảo luận về các lĩnh vực mà họ quan tâm, dẫn đến những cuộc trò chuyện ngoài hướng dẫn nhiều hơn (nghĩa là, cuộc trò chuyện khác với cuộc thảo luận đã được lên kế hoạch). Những khu vực này đã chín muồi với những hiểu biết sâu sắc.

    Câu mới cũng hiệu quả vì mọi người tin tưởng hơn vào ý kiến ​​của họ. Họ liên tưởng việc cho ý kiến với việc họ đang có ích, không bị phán xét.

    Nó không làm cho họ hoàn toàn quên rằng có thể có những người quan sát đằng sau tấm gương, nhưng nó đã cho họ một mục đích rõ ràng và sự hiểu biết về cách đáp ứng sự mong đợi của chúng ta. Nói tóm lại, nó khai thác bản năng con người để làm hài lòng mọi người theo cách có lợi cho dự án.

    Kết luận

    Kết quả thử nghiệm của tôi khiến tôi tò mò muốn thử nghiệm các “quy tắc” kiểm tra tính khả dụng được chấp nhận rộng rãi khác. Ví dụ, trong phòng thí nghiệm, chúng tôi được hướng dẫn để tiến hành trên các nhân vật (persona) trung lập, có thể đo lường được để chúng tôi không ảnh hưởng lên người tham gia bằng những khẳng định bằng lời hoặc không lời.

    Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta phá vỡ quy tắc đó? Liệu việc này có “định hướng nhân chứng”, như chúng ta đã được cảnh báo, hay chúng sẽ giúp ta xây dựng mối quan hệ? Ta có thể làm gì để phá vỡ vỏ bọc của người tham gia nhanh hơn để có được những phản hồi trung thực và cởi mở?

    Tôi khuyến khích các nhà nghiên cứu và nhà thiết kế tham gia cùng tôi trong cuộc thám hiểm này. Miễn là thử nghiệm được thực hiện với sự tôn trọng người dùng và phục vụ các mục tiêu của khách hàng, chúng ta nên tuân theo quy trình của riêng mình để lặp lại, xác thực và kiểm tra.

    Nói cho cùng, chúng ta là các chuyên gia cải tiến quy trình. Nếu chúng ta không hướng các phương thức của mình về phía chính bản thân mình thì chúng ta đang bỏ lỡ cơ hội để phát triển.

    The Line to Say in Usability Testing to Get Honest Feedback

    Dịch: Trà Giang

     

     

  • UX – Nút Cancel – Tại sao không nên có màu

    Lỗi thường gặp: nút Cancel có màu

    Bài này giải thích công dụng của nút Cancel, và tại sao không nên dùng màu cho nút này.

    cancel_button-non_action.png

    Nút Cancel thường xuất hiện ở những màn hình cần sự xác nhận

    Nút Cancel hay còn có những tên khác như “Not Now”, “No Thanks”, “Maybe Later”, or “Skip” tùy ngữ cảnh. Tuy nhiên, chúng có chung một tác dụng: bỏ qua (dismiss) màn hình hiện tại mà người dùng đang sử dụng, đưa người dùng về màn hình trước đó. Nút Cancel đóng vai trò như một cái phao cứu sinh để không tạo ra những thay đổi không mong muốn trên hệ thống.

    Do đó, nút Cancel nên tạo cảm giác an toàn cho người dùng, bằng cách thể hiện sự dự phòng an toàn (a fallback to safety), chứ không phải là một lời kêu gọi hành động (a call to action).

    Phân biệt nút Cancel và những loại nút khác:

    • Normal button: khi nhấn vào sẽ tạo ra thay đổi trên hệ thống. Dấu hiệu thể hiện điều này là màu trên button.
    • Cancel button: khi nhấn vào không tạo ra thay đổi trên hệ thống. Do đó, nếu dùng dùng màu, người dùng sẽ bối rối: “nhấn vô cái nút này có thay đổi data gì không ta”. Thay vào đó, ấn tượng đúng cần được tạo ra ở đây là “yên tâm, nhấn vô đây, không có thay đổi gì đâu”.cancel_button-non_action

    Đối với nút button, nên:

    • Dùng màu trung tính, để phân biệt với các nút CTA khác. Càng nhiều nút thì màu trung tính này phải đủ nổi bật để người dùng nhận diện nhanh hơn. Đối với người lỡ bấm nhầm và cần thoát ra nhanh thì màu xám này giúp họ nhận ra ngay để nhấn vào. Đối với những người sẵn sàng hành động thì màu xám này giúp họ bỏ qua nó, tập trung vào các nút CTA.
    • Dùng màu xám đủ tối, để dễ đọc và không bị nhầm với trạng thái disable. Để đảm bảo dễ đọc thì nên kiểm tra độ tương phản bằng một công cụ WCAG 2.0 contrast ratio chẳng hạn như Contrast Checker. Công cụ này giúp chỉ ra màu xám đang dùng có đạt chuẩn màu dễ đọc không.cancel_button-gray

     

    cancel_button-gray

    Tóm lại: hãy trung lập (neutralize) nút Cancel

    Đa số trường hợp người dùng kích hoạt màn hình xác nhận, họ đã sẵn sàng hành động. Tuy nhiên khi họ bấm nhầm và không muốn làm hành động đó, nút Cancel cần đưa cho họ sự an toàn.

    Một nút Cancel có màu đem đến tín hiệu sai. Nó khiến người dùng xem nó là một lời kêu gọi hành động thay vì một sự rút lui an toàn. Hãy trung lập nút Cancel để người dùng có cảm giác họ kiểm soát tốt hơn và tự do hơn khi sử dụng ứng dụng.

    Nguồn: https://uxmovement.com/buttons/why-cancel-buttons-should-never-have-a-color/

    Lược dịch, phóng tác, sắp xếp, chém gió: Giang Nguyễn

     

  • Hai câu hỏi giúp bạn trở nên thành công

    Michael Phelps và Winston Churchill xuất hiện ở phần đầu cuốn sách của Eric Barker, “Barking Up the Wrong Tree“. Barker xem họ là những ví dụ điển hình cho những người đã thành công VÌ những điểm lập dị của họ, chứ không phải thành công MẶC CHO những điểm lập dị của họ.

     

    Phelps có dạng cơ thể khác thường; Churchill là một “khẩu đại bác hoang tưởng luôn sẵn sàng khai hỏa.” Nhưng cả hai đều tìm thấy một ngách hẹp nơi những điều kì quặc đó trở nên hữu ích thay vì có hại, và kết quả là đưa họ lên vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực của mình.

     

    Đó là một quá trình mà bất cứ ai cũng có thể bắt chước (dĩ nhiên không đảm bảo rằng bạn sẽ nổi danh toàn cầu).

     

    Barker nói chuyện với giáo sư Trường Kinh doanh Harvard Gautam Mukunda và Mukunda đã tóm gọn nó thành hai bước, dựa trên Lý thuyết lọc lãnh đạo (Leadership Filtration Theory) mà ông đã phát triển:

     

    1. Biết chính mình. Bạn có thể tự hỏi mình: “Điểm mạnh mang tính dấu ấn của tôi là gì?”. Đó là những kỹ năng bạn đặc biệt giỏi.

     

    1. Chọn đúng cái ao của mình. Barker khuyên bạn nên tự hỏi: “Công ty, tổ chức và tình huống nào sẽ đánh giá cao những gì tôi làm?”

     

    Barker đã chia hai bước này nhỏ hơn trong cuộc phỏng vấn với giáo sư Wharton Friedon Stew Friedman trên Work and Life podcast. Ông giải thích rằng một số đặc điểm nhân cách có thể phản tác dụng trong hầu hết các tình huống, và do đó được xem là những phẩm chất tiêu cực nói chung.

     

    Lấy sự bướng bỉnh làm ví dụ. Dưới đây là lời của Barker:

     

    “Trong một công ty theo hệ thống thang bậc chuẩn mực như của bạn, sự bướng bỉnh không tích cực. … Nhưng khi chúng ta nói về các doanh nhân, chúng ta luôn nói về “gan góc, bám chặt lấy mục tiêu, không thừa nhận thất bại.’ Và điều đó là gì? Vâng, trong nhiều trường hợp, đó là sự bướng bỉnh. Có nhiều tính cách nhìn chung là tiêu cực, nhưng ở đúng hoàn cảnh, chúng có thể trở nên tích cực. ”

     

    Barker tiếp tục: “Đó là một yếu tố quan trọng khác của công thức nhắm đến thành công”. Đó là, bạn phải biết những gì bạn làm tốt và môi trường làm việc sẽ cho phép bạn làm điều đó.

     

    Đối với Phelps, có một dạng cơ thể hơi kì cục khiến anh trở thành một vận động viên và vũ công khá tệ – nhưng nó cũng khiến anh trở thành một vận động viên bơi lội tuyệt vời. Đối với Churchill, bị hoang tưởng có nghĩa là ông đã từng bị “xem là không phù hợp với các cơ quan đứng đầu” – nhưng cũng có nghĩa là ông nhận ra Hitler là mối đe dọa cho thế giới.

     

    Điểm mấu chốt là bạn sẽ phải xem xét nội tâm nghiêm túc: Bạn có phải là người phá quy tắc không? Người theo quy tắc? Đâu đó ở giữa? Và sau đó bạn sẽ phải trung thực với chính mình về môi trường nào bạn thích hợp nhất. Có lẽ nó không phải là thế giới của các công ty; cũng có thể không phải là công ty của bạn.

     

    Có thể bạn sẽ phải thử và thậm chí thất bại, nhưng về lâu dài bạn sẽ có vị trí tốt hơn để thành công.

     

    Giang Nguyễn, Sep 8 2018

    Source: Word Economics Forum, Two questions to help you become more successful in life, according to a Harvard professor

  • Things I do when I’m stressed: Gardening

    When I’m stressed by the heavy workload or complicated relationships, which may lead to a toxic thinking that I am a useless person, I often find myself calm and peaceful when I do the gardening.

    I think that I have more control over my “garden” than over my work life and my home life. I’m having 3 Malabar spinach plants in a paper cup in my office. Whenever I think that I’m a useless person, the plants remind me that at least, my breath is useful for them. In doing the gardening, I’m taking back the control of my world.

    But not that much. I made a cactus died because of too much watering. I sowed 10 seeds but only two sprouted. One of them was bitten by a snail. The only one left died when I backed home for a week and put it in a dark room. Then I sowed the seeds again. Again. Again. Adjust the amount of water. Let the plant exposed to the sunshine. A lot of adjustment and rework. I experienced the taste of failure in even the “easiest” thing like gardening until I realize that I when I take things seriously, my behavior changes, my results changes too. Nothing is easy. Nothing is difficult. It’s my attitude.

    Last but not least, one of the purposes of the gardening is the harvest, which is the reward for all my hard work, my desire, my effort. I water my three plants every day, turn the cup around to ensure that all three plants can receive the sunshine. I witness their slow growth, enjoy the happiness of achievement when “nothing” from bare soil becomes “something” like a plant, “tiny” seed becomes “big” tree, one leaf becomes many leaves. I feel like I blow the spirit into a seed and make it a lively creature. I can buy a kilogram of vegetables available in the supermarket, but nothing can be compared with my plants. The harvest is the end of a progress. It requires hard work, wise mind, and a lot of patience. Sometimes I’m stressed by the thinking that I have to hurry up to keep pace with my friends, the plants remind me that each plant has their own blooming season. All I need to do is keep patience and do my best. (I am perhaps a bamboo, which blooms once in one hundred years and die after that, or some plant that never blooms, but it doesn’t matter anymore).

    It sounds funny to left my mother’s huge garden in my hometown behind to find the meaning of gardening in a paper cup with three Malabar spinach plants. I missed my mom and her dirty hands a lot. In gardening, I find the connection between my mom and me and the generation connections in general. I saw the life cycle, a shorter version in the plants and a longer version of myself.

    Giang Nguyen, Aug 4, 2018

  • Ba loại câu hỏi

    Triết học là câu hỏi, nhưng không phải câu hỏi nào cũng là triết học.
    Nhìn chung, trên đời có ba loại câu hỏi.
    1. Câu hỏi đời thường
    2. Câu hỏi khoa học
    3. Câu hỏi triết học
    Câu hỏi đời thường là những câu hỏi dễ trả lời và dễ thống nhất. Ví dụ: Ăn cơm chưa?, Mấy giờ rồi?
    Câu hỏi khoa học là những câu hỏi khó, nhưng xác suất tìm ra câu trả lời lớn và có thể thống nhất được. Ví dụ: Tốc độ của ánh sáng là bao nhiêu? Trái đất hình cầu hay hình lập phương?
    Câu hỏi triết học là những câu hỏi khó, mang tính cơ bản, nền tảng, quy định nhiều sự vật hiện tượng. Nó đụng chạm đến những vấn đề cơ bản của cuộc sống con người, không thể không tranh cãi, khó có giải pháp chung cuộc.
    Có nhiều câu hỏi triết học khác nhau, tùy vào câu hỏi mà hình thành nên những bộ môn triết học khác nhau.
    Ví dụ về các loại câu hỏi về cùng một lĩnh vực
    1. Hỏi người qua đường: “Mấy giờ rồi?” => Câu hỏi đời thường
    Hỏi tiếp: “Thời gian là gì?” => Câu hỏi triết học
    2. Hỏi cô thu ngân: “Nãy giờ cô đếm được bao nhiêu tiền?” => Câu hỏi đời thường
    Tiếp tục hỏi về vấn đề cơ bản hơn, đếm thì liên quan đến con số. Vậy con số là gì? Đây là câu hỏi khoa học. Nhà toán học sẽ giải đáp cho ta.
    Cơ bản hơn nữa, con số dùng để đo đếm lượng (quantity). Vậy lượng là gì? Đây lại là câu hỏi triết học.
    3. Trong buổi tiệc liên hoan cuối năm, hỏi sếp: “Chia cái bánh thế nào đây sếp?”. Đây là câu hỏi đời thường, nhưng hỏi tiếp: “Chia cái bánh thế nào cho công bằng?”, thì đây lại là câu hỏi triết học, vì nó đụng chạm đến một vấn đề cơ bản: “thế nào là công bằng?”
    Bình Lợi, ngày 1.1.2016
    (Bài giảng của thầy Bùi Văn Nam Sơn, Trà Giang ghi chép)
    Nhà nghiên cứu triết học: Bùi Văn Nam Sơn – Tháng 4 năm 2016
    —
  • Để tiếng kêu cứu không rơi tõm vào thinh không

    Những ngày bị stress, mình nhận ra rằng mình cũng chẳng phải là mạnh mẽ gì cho lắm. Yếu ớt lắm là đằng khác.
    Đầu mình căng, nước mắt chỉ chực trào ra. Mình sợ, sợ lắm. Mình sợ đói, sợ bị coi thường, sợ không ai cần mình. Mình muốn trốn, mình muốn ngủ, mình muốn chết, mình muốn ra ngoài ban công kia và thả mình rơi xuống, mình muốn cầm dao cứa vào tay, mình muốn lao đầu vào xe tải.
    Chết, thực ra cũng chỉ là một giấc ngủ dài.
    Mình đã nghĩ tới chuyện chết. Mình cảm thấy mình đang hoảng loạn lắm. Mình cố gắng nói với sếp, với hai người chị mà mình thân quen trong team, với bạn thân mình rằng, mình đang không ổn, mình có ý định muốn tự tử. Mình đang cố gắng giữ mình tránh xa khỏi những thứ có thể gây hại đến mình, nhưng mình không chắc. Nếu ngay cả việc sợ đói mình cũng không còn sợ, thì chẳng còn gì níu giữ mình lại với đời. Chút tỉnh táo còn lại, mình chỉ đủ sức để giữ mình tránh xa dao kéo, tránh xa xe lớn, và không đến gần cửa sổ mà thôi.
    Trong cơn mơ mình mơ thấy mình chạy trốn vào một căn nhà. Cửa sổ rộng nhìn ra một trảng cỏ ngập nắng. Sàn gỗ. Có hai cái gương để đối diện nhau. Mình nhìn hết cái này đến cái kia. Một cái gương vẫy gọi: “Vào đây, trốn vào đây này”. Mình bước đến nó, chạm tay vào mặt gương tối đen và rơi tuột vào trong, đen thẳm, hun hút. Khi chân mình chạm đất, mình ngơ ngác nhìn quanh, vẫn tối như hũ nút. Những gương mặt chôn trong những hình đa giác như những mảnh gương vỡ sà xuống đầu mình như một tấm lưới. Những gương mặt đau khổ, cười méo mó, tuyệt nhiên không có lấy một nụ cười vui. Mình khóc.
    Buổi sáng hôm ấy mình đi làm sớm. Chị đồng nghiệp rủ mình ra pantry và share cho mình nửa phần đồ ăn sáng. Hỏi han mình, rằng sao mà hôm qua lại khóc. Mình cười méo xẹo, bảo rằng em chưa làm tốt, nên bị la. Em biết em bị la là đúng, nhưng em sợ lắm. Em chỉ cần một chút động viên thôi mà. Tại sao chị ấy lại không cho em?
    Chị đồng nghiệp bảo rằng, Giang à, người ta không thể cho cái người ta không có. Bây giờ túi chị không có tiền, mà em cứ nằng nặc: “Chị Q, cho em 5 ngàn”, em thấy vậy có hợp lý hông?
    Mình cười, cảm thấy nhẹ lòng hơn. Ngồi nghe chị ấy kể chuyện của chị ấy hồi mới đi làm, về “thương”, về “từ bi”, về “đức”, “trường năng lượng”.
    Buổi chiều hôm đó, trong lúc đang căng ra viết lại cái PA, một chị đồng nghiệp khác đi qua, nói: “Giang, giãn cái mặt ra”. Một chị khác: “Giang, sao mấy bữa nay mày im quá vậy? Tại tao nói nhiều quá hả?” Và cũng chị ấy chờ mình cùng đi xuống hầm để xe, nói mình rằng “Công việc không phải là tất cả”, dù chị ấy là người làm việc chăm chỉ và năng suất gần như nhất team ấy.
    Mình cảm thấy ấm áp và may mắn quá.
    Khi mình nhận ra rằng mình cần thương người khác cả khi họ đối tốt với mình, lẫn thương họ vì lý do gì đó đã khiến họ có những hạn chế trong hiện tại, để không đối xử tốt với mình, mình bắt đầu không chống đối. Thật khó để nhận ra rằng mình cũng đang chống đối ngấm ngầm. Nhưng khi mình tỏ thái độ hợp tác, mọi chuyện có vẻ dễ dàng hơn. Mình vẫn bị la, nhưng mình bớt buồn. Mình bắt đầu cười, bắt đầu đi loanh quanh. Các chị đồng nghiệp vẫn bắt mình giãn mặt ra. Mình vẫn đang không ổn. Nhưng hi vọng là mọi thứ đang tốt lên.
    Hôm nay, sau khi chỉnh sửa lại trang thông tin cho 2 hoạt động của team, mình thấy sếp có rep một chữ “good!” nho nhỏ. Mình cảm thấy vui.
    Nghe có vẻ kì lạ khi mình nói với ai đó về cơn hoảng loạn của mình. Người ta có xu hướng giữ kín để mình mình giải quyết. Nhưng mình không muốn. Có lẽ việc làm đó bắt đầu từ việc mình nhớ về một câu nói của ai đó rằng, khi một ai đó đi đến quyết định tự tử, trước đó họ đã kêu cứu, nhưng không ai nghe. Tiếng kêu cứu của họ rơi tõm vào thinh không. Nên trong lúc còn tỉnh táo, mình cố gắng kêu cứu. Để ít ra, tiếng kêu cứu của mình có được nghe. Và may quá. Đã có người nghe.

  • 7 cốt truyện cơ bản và ứng dụng vào các chiến dịch quảng cáo

    Liệu mọi câu chuyện đều có thể được xác định bằng các nguyên mẫu? Ở đây, chúng ta sẽ chỉ ra những nét chính trong lý thuyết của Christopher Booker về bảy cốt truyện cơ bản. 

    Bây giờ, bạn nên hiểu rõ về thứ mà chúng ta đang nói đến khi nói về cách kể chuyện và tại sao bạn có thể dùng hình thức kể chuyện để làm nổi bật và củng cố công việc sáng tạo của mình.

    Bây giờ chúng ta hãy xem xét kỹ hơn các câu chuyện.

    Các câu chuyện có thể về bất cứ thứ gì. Tất cả mọi thứ. Hãy nghĩ về câu chuyện yêu thích của bạn, và tôi đảm bảo nó sẽ hoàn toàn khác với câu chuyện của người bên cạnh bạn. Các nhân vật khác nhau, bối cảnh khác nhau, kết thúc khác nhau, v.v.

    Nhưng tất cả những câu chuyện khác nhau này có điểm gì chung không?

    Christopher Booker cho là có, thực sự là chúng có điểm chung. Trong cuốn sách The Seven Basic Plots: Why We Tell Stories [Bảy cốt truyện cơ bản: Tại sao chúng ta kể chuyện] (2004), ông giải thích rằng “thật ra chỉ có một số ít cốt truyện rất cơ bản trong cách chúng ta kể chuyện, mà gần như không người kể chuyện nào có thể phá vỡ chúng”.

    Chúng ta sẽ xem xét bảy nguyên mẫu cốt truyện mà Booker cho là sẽ giới thiệu tất cả các câu chuyện và khám phá cách chúng có thể được sử dụng để giúp bạn định hình một câu chuyện có liên quan trong quảng cáo.

    Bảy cốt truyện cơ bản

    1. Chiến thắng quái vật

    Có một thế lực tà ác đe doạ anh hùng của chúng ta/thế giới/nhân loại. Người anh hùng phải chiến đấu và giết con quái vật này, điều này thường không dễ dàng, nhưng họ chiến thắng vẻ vang và được trọng thưởng. Liên hệ với Beowulf, Dracula và King Kong.

    Chúng ta thấy cốt truyện này xuất hiện nhiều lần trong thế giới quảng cáo. Hãy nghĩ về ‘quái vật’ như một chướng ngại vật (rất hiếm khi là một con quái vật thực sự!), người anh hùng phải chiến đấu để vượt qua, thường với sự giúp đỡ của một thương hiệu.

    1. Đổi đời (khố rách áo ôm thành giàu sang nhung lụa)

    Cốt truyện này có lẽ không cần giải thích gì thêm: lúc đầu, anh hùng của chúng ta chẳng có gì nổi bật và bị người khác coi thường, nhưng rồi thứ gì đó xảy ra khiến họ được nâng tầm, để lộ ra rằng họ là đặc biệt. Liên hệ với Vịt con xấu xí, Aladdin và Superman.

    Trong marketing, làm thế nào để có thể phát hiện ra một sản phẩm / thương hiệu giúp ai đó nâng tầm bản thân, biến đổi cuộc sống của họ?

    1. Nhiệm vụ

    Trong nhiệm vụ, anh hùng của chúng ta phải bắt đầu một hành trình dài, nguy hiểm, và sẽ chiến đấu với mọi chướng ngại cho đến khi chiến thắng. Liên hệ với Chúa tể của những chiếc nhẫn, The Phù thủy xứ Oz và Harry Potter.

    Trong quảng cáo, chúng ta có thể thấy anh hùng của chúng ta hướng vào các giá trị của thương hiệu khi họ tiến lên để làm những điều tốt đẹp và đạt được mục tiêu của mình.

    1. Ra đi và trở về

    Cũng dựa trên một hành trình, nhưng Ra đi và trở về rất khác với Nhiệm vụ. Ở đây, anh hùng đi ra khỏi ‘thế giới bình thường’ của họ để tiến vào nơi vô định và choáng ngợp, trước khi trốn thoát về với chốn an toàn ở nhà mình. Liên hệ với Alice ở xứ sở diệu kì, Đi tìm Nemo và Gulliver.

    Làm thế nào một thương hiệu có thể đưa bạn đến một thế giới khác? Bạn có thể mô tả trải nghiệm của một sản phẩm qua một hành trình không?

    1. Hài kịch

    Một câu chuyện được tạo thành từ các sự kiện hài hước, thường liên quan đến nhận dạng nhầm, hiểu nhầm hay lẫn lộn, dẫn đến hỗn loạn vui nhộn. Liên hệ với Giấc mộng đêm hè, Nhật ký tiểu thư Jones và Some Like It Hot.

    Hài kịch trong quảng cáo thường được dùng để chỉ ra tình huống mà khách hàng có thể gặp phải nếu họ không sử dụng thương hiệu / sản phẩm của bạn.

    1. Bi kịch

    Đây là câu chuyện không có kết thúc có hậu. Trong các nguyên mẫu khác, chúng ta đã thấy những vị anh hùng chiến thắng và những con quái vật bị giết, cốt truyện này lại đi theo hướng khác, và kết thúc trong sự mất mát hoặc cái chết. Liên hệ với Macbeth, Romeo và Juliet và Breaking Bad.

    Thận trọng khi dùng, chúng ta thường thấy bi kịch được sử dụng thường xuyên đi đôi một cách chặt chẽ với các thủ thuật gây sốc trong quảng cáo từ thiện.

    1. Tái sinh

    Loại cốt truyện cuối cùng của chúng ta, tái sinh, người anh hùng “chịu một lời nguyền” – có thể là giấc ngủ, bệnh tật hoặc bị bỏ bùa mê – trước khi được giải thoát để tự do và được cứu chuộc. Hãy nghĩ về Người đẹp ngủ trong rừng, Người đẹp và quái vật và Khu vườn bí mật.

    Khi dùng cốt truyện Tái sinh vào quảng cáo, bạn có thể liên hệ ‘lời nguyền’ là thời gian không có thương hiệu / sản phẩm của mình, hoặc có thể thương hiệu của bạn có khả năng kết nối lại hoặc truyền cảm hứng lại cho mọi người?

    Bạn không cần phải sử dụng các nguyên mẫu này như như một hướng dẫn cần tuân thủ nghiêm ngặt, nhưng thật thú vị khi hiểu các hình mẫu khác nhau mà câu chuyện có thể đi theo, khi nào và tại sao chúng ta có thể sử dụng chúng.

    Tất nhiên, những câu chuyện không phải lúc nào cũng sử dụng một cốt truyện rõ ràng. Chúng có thể là một sự kết hợp phức tạp của rất nhiều nguyên mẫu khác nhau.

    Bảy bước tiếp theo [trong khóa học Storytelling in Advertising – ND] đều chỉ ra các ví dụ về các tác phẩm sáng tạo đạt giải tuân theo từng nguyên mẫu cốt truyện. Các tác phẩm này bao gồm từ quảng cáo phim truyền thống cho đến sử dụng các nền tảng tương tác và mạng xã hội (mà chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn trong tuần 3 & 4). Hãy xem từng video và suy nghĩ về lý do tại sao nó hiệu quả cho thương hiệu hoặc sản phẩm đó. Bạn có thể nghĩ ra các ví dụ khác về các tác phẩm theo cùng cốt truyện không?

    6/5/2018

    Trà Giang dịch

    Source: https://www.futurelearn.com/courses/brand-storytelling/2/steps/78020

  • Những giấc mơ trong khu vườn bí mật

    Tôi biết đến những Secret Garden, Enya, Beethoven, Chopin, Vilvadi… không phải là từ việc nghe, mà từ việc đọc. Thời học trò nhiều mơ mộng, tôi hay đọc Trà sữa cho tâm hồn, Minh Nhật, Phan Hồn Nhiên, những cái tên bài hát xuất hiện trong truyện, tôi nghe rồi tưởng tượng mình là nhân vật trong câu chuyện đó, lắng nghe bản nhạc đó. Những chàng trai cô gái văn phòng gõ máy tính lách cách, tai đeo headphone, cốc cà phê uống dở để bên cạnh, ô cửa sổ ngoài kia đầy nắng. Đẹp quá, đáng ngưỡng mộ quá.
    Một năm, hai năm, ba năm rồi sáu năm tôi thành thị dân, rồi thành dân văn phòng thứ thiệt. Tôi không nghe nhạc nữa. Đầu óc căng cứng với số liệu, báo cáo, tổ chức, sự kiện, chi phí.
    Hôm nay tôi nghe lại Secret Garden, không nhìn tên bài hát, chỉ lắng nghe. Để thứ âm nhạc dịu dàng ấy ru mình, đưa mình vào giấc mơ.
    Trong giấc mơ có đuôi mắt biết cười