Author: giangnguyen

  • Vịt con xấu xí

    Câu chuyện cổ điển này nêu lên câu hỏi về việc bắt nạt, phân biệt, và tầm quan trọng của việc trung thực với bản thân

    Source: https://www.prindleinstitute.org/wp-content/uploads/2020/07/Screen-Shot-2020-06-11-at-10.43.07-AM.png

    Tác giả: Hans Christian Andersen

    (Viết lại: Jerrry Pinkney)

    Tóm tắt

    Vịt Con Xấu Xí trông rất khác với những anh chị em của mình – chúng lấy chú ra làm trò cười và đối xử với chú một cách tàn tệ vì chú không giống họ. Chú tìm một nơi mà mình được chấp nhận như chính bản thân mình. Nơi đó không phải với vịt, gà mái hay ngỗng, cũng không phải với bà cụ cùng con mèo và con gà mái của bà. Chú ước mình xinh đẹp như những con thiên nga mà chú nhìn thấy trên bầu trời và có những người bạn không chọc ghẹo chú. Vào mùa xuân, chú đã trưởng thành và cố gắng nhập vào một đàn thiên nga. Những con thiên nga trẻ không trêu chọc chú như tất cả những sinh vật khác, mà họ đối xử với chú như chú là một trong số họ. Chú ngạc nhiên rằng những sinh vật xinh đẹp như vậy lại muốn ở bên mình. Nhưng rồi chú nhìn thấy cái bóng phản chiếu trên mặt nước của mình và thấy chú cũng là một con thiên nga xinh đẹp. Cuối cùng chú đã tìm thấy ngôi nhà của mình với những con thiên nga và đã được yên bình khỏi mọi điều chế giễu và nhạo báng mà chú đã phải chịu đựng trong quá khứ.

    Video đọc truyện

    Hướng dẫn thảo luận triết học

    MELANIE STUART

    Vịt Con Xấu Xí bị các thành viên trong gia đình phân biệt đối xử bởi chú không giống họ. Chú  liên tục bị những con vịt và các thành viên của bất kì nhóm động vật nào mà chú cố gắng tìm một mái nhà với chúng, chẳng hạn như  gà mái và mèo, trêu chọc, bắt nạt, và thậm chí làm chú bị tổn thương về thể chất. Thậm chí cả con người cũng xấu xa với chú. Tình trạng của chú giống như một đứa trẻ bị một người bạn cùng lớp bắt nạt ở sân trường. Đứa trẻ bị bắt nạt bằng lời nói và / hoặc về mặt thể xác vì những thứ mà trong mắt những kẻ bắt nạt là những khác biệt không thể chấp nhận được như mặc các loại quần áo khác nhau, có cách nghĩ khác, hoặc đơn giản là nhìn khác nhau. Đây là một hình thức phân biệt đối xử vô lý. Trong khi một số hình thức phân biệt đối xử có thể là vô ý, thì hình thức của phân biệt đối xử trong câu chuyện này, như trường hợp với kẻ bắt nạt trong sân trường, là có ý thức và cố ý. Phân biệt đối xử là một dạng thành kiến, bao gồm cảm giác thù địch, phản đối hoặc thờ ơ, cũng như niềm tin vào sự kém cỏi hơn về mặt đạo đức, trí tuệ hoặc kỹ năng của người hoặc nhóm người bị nhắm làm mục tiêu. Câu chuyện đặt ra một trường hợp thành kiến ​​cố chấp, hung hăng theo cách khiến sự tổn hại của sự phân biệt đối xử đó trở nên rất rõ ràng.

    Câu hỏi thảo luận triết học

    1. Tại sao các loài động vật khác lại gọi Vịt Con Xấu Xí là xấu xí? Họ đã nói gì khi họ gọi chú là xấu xí? Liệu việc trông khác biệt có khiến cho ai đó xấu xí?

    2. Tại sao một người nào đó trêu chọc / bắt nạt / đem những người trông khác với họ ra làm trò cười?

    3. Có tình huống nào mà việc đánh giá ai đó qua ngoại hình của họ là chấp nhận được không? (Ví dụ như các cuộc thi sắc đẹp, thời trang, phỏng vấn xin việc…) Điều khiến cho những tình huống này khác với trường hợp của Vịt Con Xấu Xí là gì?

    4. Liệu bạn có phải trông giống như những người xung quanh mình để phù hợp với họ?

    5. Tại sao Vịt Con Xấu Xí phải tìm thấy những con chim trông giống như chú để biết và cảm thấy thoải mái với việc mình là ai?

    6. Liệu việc một người trông như thế nào từ bên ngoài có quyết định rằng họ là ai?

    NGUYỄN THỊ TRÀ GIANG dịch


    Nguồn: https://www.teachingchildrenphilosophy.org/BookModule/TheUglyDuckling

    Bài viết đã đăng tại: http://triethoc.edu.vn/vi/chuyen-de-triet-hoc/triet-hoc-cho-tre-em/vit-con-xau-xi_834.html

  • Đếm thời gian

    29/9/2012

    Mình có một người anh, hàng ngày anh đều cập nhật một con số lên status của mình: 119, 118, 117,… hôm qua là 95, hôm nay là 94… Anh đang đếm còn bao nhiêu ngày nữa thì sẽ được về nhà.

    Nhớ ngày mình rời Bảo Lộc xuống Sài Gòn, chán nản và mệt mỏi trước một chuỗi ngày quá dài sắp tới, anh đã nói: “Không sao đâu G, H đếm hết rồi, nhanh lắm…” Lúc ấy mình chỉ cười. Nếu nói bốn năm, ba năm, 5 tháng, 4 tháng, mình sẽ thấy nó dài lắm lắm. Nhưng khi chúng được quy đổi ra từng ngày, những con số giảm dần ấy làm mình chóng mặt. Hóa ra 1 năm cũng chỉ có 365 ngày, và chỉ còn 94 ngày nữa là hết năm rồi… Đời có bao nhiêu mà hững hờ? Có bao nhiêu mà phung phí? 

    Time waits for no one!

    Bình luận ngày 31/10/2020, ngày cuối cùng Facebook cho phép viết Notes

    Đây là cái note đầu tiên trên FB của mình khi mình xuống SG học đại học, thấm thoắt đã gần 10 năm trôi qua. Đời có bao nhiêu cái mười năm cơ chứ 😀

    Sài Gòn đã có nhiều thứ để mong đợi, để đón chờ, khiến mình nguôi bớt cơn nhớ nhà. Mình đã thôi không đếm ngày, chỉ còn đếm deadline và thỉnh thoảng nhẩm tính số năm đã qua, và đếm thử xem đến khi nào thì đến điểm cuối của cuộc đời.

    Ừ… Điểm cuối.


  • [Tui đọc gì] Tuyển tập sách Táng zô mặt cho tỉnh

    Trong một thế giới đầy rẫy thảo mai, đường mật, self-help, dỗ dành, ta rất cần những cuốn sách mà khi đọc khiến những niềm tin của ta lung lay đến tận móng, hay ít nhất là tốc mất cái mái hay nghiêng ngả cái tường, để sáng mắt sáng lòng mà bước tiếp. Sau đây là một số cuốn sách mà tui coi như những gáo nước lạnh tạt vô mặt, để cách suy nghĩ thay đổi mãi mãi về sau:

    1. Homo Deus: Để thấy nghi ngờ về cả tôn giáo, khoa học, chính trị, lẫn chính bản thân mình. Để nhận ra rằng, ồ, mình cũng không thông minh lắm đâu, và mình cũng đỡ ngu ngơ rồi đấy.
    2. Corporate Confidential: Để tỉnh táo trước HR, mission, value, và tự bảo vệ bản thân cho tốt với vai trò là người lao động.
    3. Lý thuyết trò chơi: Dẹp bỏ sự e ngại về việc “biết chơi game”. Hiểu được rằng “có tư duy chiến thuật” thực ra chính là “biết chơi game”.
  • Khoa học hành vi

    Khoa học hành vi – behavioral science, chủ đề rất được quan tâm gần đây, đặc biệt sau khi giải Nobel kinh tế được trao cho Richard Thaler năm 2017 về chủ đề kinh tế học hành vi.

    Nhưng, khoa học hành vi là gì? Sau đây là tổng hợp một số định nghĩa:

    Theo từ điển Britannica:

    Behavioral science, any of various disciplines dealing with the subject of human actions, usually including the fields of sociology, social and cultural anthropology, psychology, and behavioral aspects of biology, economics, geography, law, psychiatry, and political science. The term gained currency in the 1950s in the United States; it is often used synonymously with “social sciences,” although some writers distinguish between them. The term behavioral sciences suggests an approach that is more experimental than that connoted by the older term social sciences.

    https://www.britannica.com/science/behavioral-science

    Khoa học hành vi, bất kỳ ngành nào liên quan đến chủ đề hành động của con người, thường bao gồm các lĩnh vực xã hội học, nhân học xã hội và văn hóa, tâm lý học và các khía cạnh hành vi của sinh học, kinh tế, địa lý, luật, tâm thần học và khoa học chính trị. Thuật ngữ này đã trở nên phổ biến trong những năm 1950 ở Hoa Kỳ; nó thường được sử dụng đồng nghĩa với “khoa học xã hội”, mặc dù một số tác giả vẫn phân biệt giữa chúng. Thuật ngữ khoa học hành vi gợi ý một cách tiếp cận dựa trên thực nghiệm hơn so với thuật ngữ khoa học xã hội cũ hơn.

    Như vậy, có thể xem từ “khoa học hành vi” thời thượng này tương đương với “khoa học xã hội”, với cách tiếp cận dựa trên thực nghiệm nhiều hơn, và bao trùm rất nhiều ngành khoa học quen thuộc khác.

    Một số nguồn thông tin để tìm hiểu về khoa học hành vi:

    1. https://behavioralscientist.org/

    [Mỹ] Một tạp chí phi lợi nhuận, đa dạng chủ đề từ kinh tế, công nghệ, , được viết bởi các nhà nghiên cứu, nhà thực hành và phóng viên hàng đầu về khoa học hành vi (có thể tham khảo danh sách của Ban biên tập và Ban cố vấn tại đây: http://behavioralscientist.org/masthead/ – Richard Thaler cũng có tên trong ban cố vấn)

    Đánh giá:

    • Đáng tin cậy: Cao
    • Đa dạng: Cao
    • Phù hợp để đọc với mục đích học thuật & một số ứng dụng

    2. https://www.behavioraleconomics.com/consulting/

    [Anh] Trang web của công ty tư vấn Behavioral Science Solutions Ltd.. Đứng đầu là Tiến sĩ Alain Samson (https://www.linkedin.com/in/alainsamson/)

    Trong phần Resources là danh sách tài liệu về khoa học hành vi, gồm: các sự kiện, thuật ngữ chính, chương trình học sau đại học, các bài TED Talk, tạp chí khoa học…

    Đánh giá:

    • Đáng tin cậy: Trung bình
    • Đa dạng: Thấp
    • Phù hợp để bắt đầu với phần thuật ngữ và đọc với mục đích ứng dụng. Phần blog không có nhiều bài, nhưng cũng khá thú vị và có tính ứng dụng cao: https://www.behavioraleconomics.com/blog/

    3. https://thedecisionlab.com/behavioral-insights/

    [Canada] Trang web của Decision Lab, một tập đoàn nghiên cứu về ý thức xã hội tại Canada. Cung cấp dịch vụ tư vấn cho các tập đoàn lớn.

    Đánh giá:

    • Đáng tin cậy: Trung bình
    • Đa dạng: Cao
    • Phù hợp để đọc với mục đích ứng dụng

    20201011

    Giang Nguyễn tổng hợp, đánh giá, dịch, review

  • Nhân vật – Personas

    (bài viết mang tính chất tổng hợp để học, không có giá trị đúng sai, vui lòng không mang đi đâu).

    Persona là gì?

    Personas là một công cụ UX hữu ích để tóm tắt dữ liệu nghiên cứu về mong muốn, nhu cầu, hành vi của người dùng. Các nhà thiết kế tạo ra các hồ sơ nhân vật để nhân cách hóa những phát hiện và hiểu biết của họ cho các bên liên quan của dự án. Điều này là để giúp hướng dẫn việc ra quyết định của họ đối với việc đáp ứng nhu cầu của người dùng.

    Các loại Persona:

    Theo Anthony, về khả năng xài lại của Persona

    Nguồn: https://uxmovement.com/thinking/the-big-problem-with-personas/)

    Wordy persona

    Persona truyền thống gồm các phần sau:

    • A written bio
    • Demographics
    • Stock photo
    • Personality attributes
    • Motivations, Goals, Frustrations, etc

    Hạn chế: khó tra cứu và không tái sử dụng được. Tốn nhiều thời gian để làm, nhưng các bên liên quan không thèm ngó. Do đó, ta có loại persona thứ 2 là Reinventing Persona

    Reinventing Personas

    Để persona dùng được, cần loại bỏ các yếu tố gây nhiễu và chỉ tập trung vào những điều thiết yếu. Persona cần có 5 điểm thiết yếu sau:

    1. Concise snippets of information (context)
    2. Clarity on who the persona represents (context)
    3. Insight into user goals and priorities (user goals)
    4. Details about their tasks that frustrate them (paint points – task-oriented needs)
    5. Details about their tasks that delight them (pleasure points – task-oriented needs)

    persona-patterns-anatomy.png

    Theo Lene Nielsen , phân loại theo các cách tiếp cận persona

    (Nguồn: Personas)

    1. Goal directed persona

    9b41e7956f74eb1629d4c189f193097b.jpg

    2. Role-based persona

     

    3. Engaging persona

    8f9de451987dcf58884332b56b51a62f.jpg

    4. Fictional persona

    Dựa trên giả định của team design, có thể xem như bản nháp đầu tiên, cần được verify lại.

    Một dạng persona khác lượm trên mạng:

    main-qimg-5b82777b13aae3344423c26b1148a084-c.jpeg

    Các bước để tạo ra persona:

    1. Quora: https://www.quora.com/Whats-the-best-way-to-define-personas

    2. https://www.interaction-design.org/literature/article/personas-why-and-how-you-should-use-them

    3dae7b545b1b8323dd21b07333ab6643.jpg

    Tài liệu tham khảo, copy các thể loại:

    https://www.quora.com/Whats-the-best-way-to-define-personas (và một lô related links)

    The Big Problem with Personas

    What makes a good persona?

    https://www.forbes.com/sites/forbesagencycouncil/2018/03/14/how-to-craft-the-ideal-user-persona-for-your-brand/#5f6bda2b6ead

    Tổng hợp: Trà Giang

  • Lời mào đầu khi hỏi về tính khả dụng (Usability Testing) để nhận được phản hồi chân thành

    Câu giới thiệu thảo mai thường thấy trong các buổi kiểm tra tính khả dụng mà tôi (tác giả) gặp quài quài khi đi ngâm cứu về tính khả dụng:

    “Please give your open and honest feedback. I didn’t design this so don’t feel like you need to sugarcoat anything. You won’t hurt my feelings.”

    (Mong bạn phản hồi cởi mở và chân thành. Tôi không thiết kế những thứ này, nên bạn không cần phải thảo mai về điều gì cả. Bạn không làm tôi thấy tổn thương đâu.)

    Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra ở đây: liệu việc tách bạch là tôi không liên quan tới thiết kế đó, dù là nói thật hay không, có phải là cách tốt nhất để khuyến khích những người tham gia đưa ra những phản hồi cởi mở và chân thành?

    Tôi đã tiến hành vài ngâm cứu và tìm ra vài thứ sau:

    Đóng khung vấn đề

    Mấy dòng giới thiệu đầu buổi test không nhằm nhò gì mấy để khuyến khích người dùng đưa ra phản hồi cởi mở hết. Với đa số bà con, đưa phản hồi chả thoải mái gì cho dù ở trường hợp lý tưởng đến thế nào, chưa kể là đưa cho thằng cha ất ơ mới gặp nào đó nữa chớ. Nhưng sự thật không bị che giấu là thứ sống còn cho thành công của dự án của khách hàng!

    Khách hàng không trả tiền để xác nhận mấy thứ họ làm tốt rồi. Họ muốn thấy mấy lỗi chủ quan (human error), nghe ý kiến thực tế về thứ đang không hoạt động trước khi quăng người vô dự án làm. Nhưng, trong môi trường phòng lab, đối diện với cái gương hai chiều, bản năng con người trỗi dậy và người ta có xu hướng làm hài lòng.

    Trong thí nghiệm của tôi, mấy câu giới thiệu mẫu mực ngăn cản sự cởi mở và chân thành mà đáng lẽ mấy câu này nên khơi gợi ra. Khi tôi nhắc người tham gia nhớ là một người đã dành thời gian, công sức vào thiết kế này để khiến họ buồn lòng, tôi đang mồi để đo lường phản hồi của họ.

    Họ vẫn e dè nói thẳng, thường rào đón câu trả lời của mình để giảm nhẹ tầm ảnh hưởng (ví dụ: Có lẽ chỉ có mình tôi thôi, nhưng…). Điều này dẫn đến những phản hồi không hiệu quả làm mờ và giảm thiểu ảnh hưởng của vấn đề thiết kế lên user.

    Thí nghiệm

    Tôi tiến hành thử nghiệm này trên 10 buổi kiểm tra tính khả dụng trên một prototype trên InVision mà tôi đã thiết kế. Khách hàng duyệt cho sự thay đổi trên kịch bản. Các phiên kéo dài một giờ tại phòng nghiên cứu tính khả dụng của LiquidHub. Không có khách hàng ở phòng quan sát.

    Những thay đổi và thành công của chúng

    Tôi thử vài thay đổi trên câu giới thiệu, Nếu thành công, câu mới sẽ khơi gợi người tham gia đưa ra phản hồi trung thực mà không suy tính ý kiến của họ với nỗi sợ đề phòng.

    Câu này không đem đến tác dụng tốt:

    “We’re going to look at a prototype that I designed. I put time and energy into coming up with ideas, but I need your feedback to make it the best version it can be.”

    “Chúng ta sẽ xem một prototype mà tôi đã thiết kế. Tôi đã dành thời gian và công thức để đưa ra những ý tưởng này, nhưng tôi cần phản hồi của bạn để biến nó thành phiên bản tốt nhất có thể.”

    Câu này không hiệu quả vì nó đặt áp lực không hợp lý lên người tham gia để giúp tôi hoàn thành công việc. Với lại, việc định hình tôi là một người thiết kế thuần túy, thiết lập một phong thái đối kháng (ví dụ: ý kiến của bạn và ý tưởng của tôi).

    Đây là phiên bản có tác dụng tốt nhất:

    usability-testing_quote

    “My job is to help the client make this as amazing as possible. We’ve had some ideas already. And when we brainstormed, we put all our ideas in the design without judgement. You will help me figure out which ideas are great, which are duds, and come up with new ideas we didn’t think of.”

    “Công việc của tôi là giúp khách hàng biến thứ này thành thứ tốt nhất có thể. Chúng tôi đã có một vài ý tưởng. Và khi chúng tôi động não, chúng tôi đã đưa ra tất cả những ý kiến này vào thiết kế mà không có suy xét gì cả. Bạn sẽ giúp chúng tôi chỉ ra những ý tưởng nào là tốt, tồi, và đưa ra những ý tưởng mới mà chúng tôi chưa từng nghĩ đến.”

    Tại sao câu mới này lại có tác dụng?

    Tôi đã học được rằng dòng mới này thay đổi cách người tham gia tiếp cận toàn bộ tương tác trong bài kiểm tra tính khả dụng. Với câu mới, những người tham gia bắt đầu hành động như một đối tác thiết kế, áp dụng tư duy giải quyết vấn đề thay vì chỉ phản ứng với thiết kế như một sự kích thích.

    Những người tham gia đã thoải mái hơn khi dẫn dắt cuộc thảo luận về các lĩnh vực mà họ quan tâm, dẫn đến những cuộc trò chuyện ngoài hướng dẫn nhiều hơn (nghĩa là, cuộc trò chuyện khác với cuộc thảo luận đã được lên kế hoạch). Những khu vực này đã chín muồi với những hiểu biết sâu sắc.

    Câu mới cũng hiệu quả vì mọi người tin tưởng hơn vào ý kiến ​​của họ. Họ liên tưởng việc cho ý kiến với việc họ đang có ích, không bị phán xét.

    Nó không làm cho họ hoàn toàn quên rằng có thể có những người quan sát đằng sau tấm gương, nhưng nó đã cho họ một mục đích rõ ràng và sự hiểu biết về cách đáp ứng sự mong đợi của chúng ta. Nói tóm lại, nó khai thác bản năng con người để làm hài lòng mọi người theo cách có lợi cho dự án.

    Kết luận

    Kết quả thử nghiệm của tôi khiến tôi tò mò muốn thử nghiệm các “quy tắc” kiểm tra tính khả dụng được chấp nhận rộng rãi khác. Ví dụ, trong phòng thí nghiệm, chúng tôi được hướng dẫn để tiến hành trên các nhân vật (persona) trung lập, có thể đo lường được để chúng tôi không ảnh hưởng lên người tham gia bằng những khẳng định bằng lời hoặc không lời.

    Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta phá vỡ quy tắc đó? Liệu việc này có “định hướng nhân chứng”, như chúng ta đã được cảnh báo, hay chúng sẽ giúp ta xây dựng mối quan hệ? Ta có thể làm gì để phá vỡ vỏ bọc của người tham gia nhanh hơn để có được những phản hồi trung thực và cởi mở?

    Tôi khuyến khích các nhà nghiên cứu và nhà thiết kế tham gia cùng tôi trong cuộc thám hiểm này. Miễn là thử nghiệm được thực hiện với sự tôn trọng người dùng và phục vụ các mục tiêu của khách hàng, chúng ta nên tuân theo quy trình của riêng mình để lặp lại, xác thực và kiểm tra.

    Nói cho cùng, chúng ta là các chuyên gia cải tiến quy trình. Nếu chúng ta không hướng các phương thức của mình về phía chính bản thân mình thì chúng ta đang bỏ lỡ cơ hội để phát triển.

    The Line to Say in Usability Testing to Get Honest Feedback

    Dịch: Trà Giang

     

     

  • UX – Nút Cancel – Tại sao không nên có màu

    Lỗi thường gặp: nút Cancel có màu

    Bài này giải thích công dụng của nút Cancel, và tại sao không nên dùng màu cho nút này.

    cancel_button-non_action.png

    Nút Cancel thường xuất hiện ở những màn hình cần sự xác nhận

    Nút Cancel hay còn có những tên khác như “Not Now”, “No Thanks”, “Maybe Later”, or “Skip” tùy ngữ cảnh. Tuy nhiên, chúng có chung một tác dụng: bỏ qua (dismiss) màn hình hiện tại mà người dùng đang sử dụng, đưa người dùng về màn hình trước đó. Nút Cancel đóng vai trò như một cái phao cứu sinh để không tạo ra những thay đổi không mong muốn trên hệ thống.

    Do đó, nút Cancel nên tạo cảm giác an toàn cho người dùng, bằng cách thể hiện sự dự phòng an toàn (a fallback to safety), chứ không phải là một lời kêu gọi hành động (a call to action).

    Phân biệt nút Cancel và những loại nút khác:

    • Normal button: khi nhấn vào sẽ tạo ra thay đổi trên hệ thống. Dấu hiệu thể hiện điều này là màu trên button.
    • Cancel button: khi nhấn vào không tạo ra thay đổi trên hệ thống. Do đó, nếu dùng dùng màu, người dùng sẽ bối rối: “nhấn vô cái nút này có thay đổi data gì không ta”. Thay vào đó, ấn tượng đúng cần được tạo ra ở đây là “yên tâm, nhấn vô đây, không có thay đổi gì đâu”.cancel_button-non_action

    Đối với nút button, nên:

    • Dùng màu trung tính, để phân biệt với các nút CTA khác. Càng nhiều nút thì màu trung tính này phải đủ nổi bật để người dùng nhận diện nhanh hơn. Đối với người lỡ bấm nhầm và cần thoát ra nhanh thì màu xám này giúp họ nhận ra ngay để nhấn vào. Đối với những người sẵn sàng hành động thì màu xám này giúp họ bỏ qua nó, tập trung vào các nút CTA.
    • Dùng màu xám đủ tối, để dễ đọc và không bị nhầm với trạng thái disable. Để đảm bảo dễ đọc thì nên kiểm tra độ tương phản bằng một công cụ WCAG 2.0 contrast ratio chẳng hạn như Contrast Checker. Công cụ này giúp chỉ ra màu xám đang dùng có đạt chuẩn màu dễ đọc không.cancel_button-gray

     

    cancel_button-gray

    Tóm lại: hãy trung lập (neutralize) nút Cancel

    Đa số trường hợp người dùng kích hoạt màn hình xác nhận, họ đã sẵn sàng hành động. Tuy nhiên khi họ bấm nhầm và không muốn làm hành động đó, nút Cancel cần đưa cho họ sự an toàn.

    Một nút Cancel có màu đem đến tín hiệu sai. Nó khiến người dùng xem nó là một lời kêu gọi hành động thay vì một sự rút lui an toàn. Hãy trung lập nút Cancel để người dùng có cảm giác họ kiểm soát tốt hơn và tự do hơn khi sử dụng ứng dụng.

    Nguồn: https://uxmovement.com/buttons/why-cancel-buttons-should-never-have-a-color/

    Lược dịch, phóng tác, sắp xếp, chém gió: Giang Nguyễn

     

  • Hai câu hỏi giúp bạn trở nên thành công

    Michael Phelps và Winston Churchill xuất hiện ở phần đầu cuốn sách của Eric Barker, “Barking Up the Wrong Tree“. Barker xem họ là những ví dụ điển hình cho những người đã thành công VÌ những điểm lập dị của họ, chứ không phải thành công MẶC CHO những điểm lập dị của họ.

     

    Phelps có dạng cơ thể khác thường; Churchill là một “khẩu đại bác hoang tưởng luôn sẵn sàng khai hỏa.” Nhưng cả hai đều tìm thấy một ngách hẹp nơi những điều kì quặc đó trở nên hữu ích thay vì có hại, và kết quả là đưa họ lên vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực của mình.

     

    Đó là một quá trình mà bất cứ ai cũng có thể bắt chước (dĩ nhiên không đảm bảo rằng bạn sẽ nổi danh toàn cầu).

     

    Barker nói chuyện với giáo sư Trường Kinh doanh Harvard Gautam Mukunda và Mukunda đã tóm gọn nó thành hai bước, dựa trên Lý thuyết lọc lãnh đạo (Leadership Filtration Theory) mà ông đã phát triển:

     

    1. Biết chính mình. Bạn có thể tự hỏi mình: “Điểm mạnh mang tính dấu ấn của tôi là gì?”. Đó là những kỹ năng bạn đặc biệt giỏi.

     

    1. Chọn đúng cái ao của mình. Barker khuyên bạn nên tự hỏi: “Công ty, tổ chức và tình huống nào sẽ đánh giá cao những gì tôi làm?”

     

    Barker đã chia hai bước này nhỏ hơn trong cuộc phỏng vấn với giáo sư Wharton Friedon Stew Friedman trên Work and Life podcast. Ông giải thích rằng một số đặc điểm nhân cách có thể phản tác dụng trong hầu hết các tình huống, và do đó được xem là những phẩm chất tiêu cực nói chung.

     

    Lấy sự bướng bỉnh làm ví dụ. Dưới đây là lời của Barker:

     

    “Trong một công ty theo hệ thống thang bậc chuẩn mực như của bạn, sự bướng bỉnh không tích cực. … Nhưng khi chúng ta nói về các doanh nhân, chúng ta luôn nói về “gan góc, bám chặt lấy mục tiêu, không thừa nhận thất bại.’ Và điều đó là gì? Vâng, trong nhiều trường hợp, đó là sự bướng bỉnh. Có nhiều tính cách nhìn chung là tiêu cực, nhưng ở đúng hoàn cảnh, chúng có thể trở nên tích cực. ”

     

    Barker tiếp tục: “Đó là một yếu tố quan trọng khác của công thức nhắm đến thành công”. Đó là, bạn phải biết những gì bạn làm tốt và môi trường làm việc sẽ cho phép bạn làm điều đó.

     

    Đối với Phelps, có một dạng cơ thể hơi kì cục khiến anh trở thành một vận động viên và vũ công khá tệ – nhưng nó cũng khiến anh trở thành một vận động viên bơi lội tuyệt vời. Đối với Churchill, bị hoang tưởng có nghĩa là ông đã từng bị “xem là không phù hợp với các cơ quan đứng đầu” – nhưng cũng có nghĩa là ông nhận ra Hitler là mối đe dọa cho thế giới.

     

    Điểm mấu chốt là bạn sẽ phải xem xét nội tâm nghiêm túc: Bạn có phải là người phá quy tắc không? Người theo quy tắc? Đâu đó ở giữa? Và sau đó bạn sẽ phải trung thực với chính mình về môi trường nào bạn thích hợp nhất. Có lẽ nó không phải là thế giới của các công ty; cũng có thể không phải là công ty của bạn.

     

    Có thể bạn sẽ phải thử và thậm chí thất bại, nhưng về lâu dài bạn sẽ có vị trí tốt hơn để thành công.

     

    Giang Nguyễn, Sep 8 2018

    Source: Word Economics Forum, Two questions to help you become more successful in life, according to a Harvard professor

  • Things I do when I’m stressed: Gardening

    When I’m stressed by the heavy workload or complicated relationships, which may lead to a toxic thinking that I am a useless person, I often find myself calm and peaceful when I do the gardening.

    I think that I have more control over my “garden” than over my work life and my home life. I’m having 3 Malabar spinach plants in a paper cup in my office. Whenever I think that I’m a useless person, the plants remind me that at least, my breath is useful for them. In doing the gardening, I’m taking back the control of my world.

    But not that much. I made a cactus died because of too much watering. I sowed 10 seeds but only two sprouted. One of them was bitten by a snail. The only one left died when I backed home for a week and put it in a dark room. Then I sowed the seeds again. Again. Again. Adjust the amount of water. Let the plant exposed to the sunshine. A lot of adjustment and rework. I experienced the taste of failure in even the “easiest” thing like gardening until I realize that I when I take things seriously, my behavior changes, my results changes too. Nothing is easy. Nothing is difficult. It’s my attitude.

    Last but not least, one of the purposes of the gardening is the harvest, which is the reward for all my hard work, my desire, my effort. I water my three plants every day, turn the cup around to ensure that all three plants can receive the sunshine. I witness their slow growth, enjoy the happiness of achievement when “nothing” from bare soil becomes “something” like a plant, “tiny” seed becomes “big” tree, one leaf becomes many leaves. I feel like I blow the spirit into a seed and make it a lively creature. I can buy a kilogram of vegetables available in the supermarket, but nothing can be compared with my plants. The harvest is the end of a progress. It requires hard work, wise mind, and a lot of patience. Sometimes I’m stressed by the thinking that I have to hurry up to keep pace with my friends, the plants remind me that each plant has their own blooming season. All I need to do is keep patience and do my best. (I am perhaps a bamboo, which blooms once in one hundred years and die after that, or some plant that never blooms, but it doesn’t matter anymore).

    It sounds funny to left my mother’s huge garden in my hometown behind to find the meaning of gardening in a paper cup with three Malabar spinach plants. I missed my mom and her dirty hands a lot. In gardening, I find the connection between my mom and me and the generation connections in general. I saw the life cycle, a shorter version in the plants and a longer version of myself.

    Giang Nguyen, Aug 4, 2018