Author: giangnguyen

  • Học chậm #4 Con người mà tôi đã không trở thành

    Năm 2025 đánh dấu 10 năm Giang bước chân vào thế giới công sở, nhanh như một cái chớp mắt. Đã tới cái lúc mà Giang bắt đầu được các bạn nhỏ nhắn hỏi về sự nghiệp, rằng em nên đi làm ở đâu, nhận việc nào, học cái gì. Giang không thể tự tin mà khuyên nhủ các bạn như anh họ Giang đã khuyên nhủ Giang ngày đó, bởi thế giới đang thay đổi quá nhanh và sự khác biệt giữa các thế hệ đang lớn hơn bao giờ hết, nên những kinh nghiệm của Giang hay của những người lớn có thể không còn phù hợp nữa. Nhưng nếu các bạn cần, thì đây là vài ghi chú của mình, hãy đọc và thật cẩn trọng kiểm chứng chúng nha.

    1. Luôn có khoảng cách giữa kì vọng và thực tế. Và chúng ta không thể quay ngược thời gian, những thứ bạn ra quyết định ĐÃ LÀ TỐT NHẤT VÀO LÚC ĐÓ với những thông tin mà bạn có thể tiếp cận được và khả năng phân tích, ra quyết định của bạn vào lúc đó. Cái ta có thể làm lúc này, là học cách ra quyết định tốt hơn, dựa vào mình và dựa vào người thông qua sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa dữ liệu và chuyên gia.
    2. Ta có thể không trở thành phiên bản mình mong muốn. Không có ước mơ, không biết mình muốn gì, tới chừng này tuổi vẫn không đạt được những thứ mình từng mơ. Mà ngừng lại chút xem, chúng ta sống trong đời thực chứ không phải trong mơ mà? Sự nghiệp đâu có nhất thiết phải trùng với ước mơ?
    3. Khi rời bỏ một công việc, một sự nghiệp đã xây dựng bao năm, không hẳn là bạn bắt đầu lại từ đầu. Những thứ bạn đã mang theo, đã gây dựng có thể trở thành tảng đá xây cầu hay chắn đường, còn tùy vào con đường bạn đi.
    4. Sẽ có những lúc mình không thích đi làm, y như ngày xưa mình không ưa đi học. Sẽ có những lúc phải cắn răng làm việc mình không thích để có tiền ăn. Ít nhất nhớ để dành một ít đảm bảo mình không đói bụng, thì mới có sức mà mơ.
    5. Hãy cẩn thận với những điều bạn mơ ước. Như đồ ăn, có những món ăn một chút thì ngon, ăn hàng ngày sẽ là một sự tra tấn.

    Trong mười năm làm người lớn, Giang đã không trở thành bác sĩ, vốn là ước mơ từ hồi 7 tuổi tới 15 tuổi. Giang không trở thành dịch giả/ biên tập viên như giấc mơ năm 21. Giang cũng không trở thành team lead như đã thỏ thẻ với sếp năm 22 tuổi.

    Vậy, Giang đã trở thành ai?

    Qua mười năm, Giang từ một người 22 tuổi thành một người 32 tuổi. Giang cười nhiều hơn, kemeno nhiều hơn, ở trong một ngôi nhà không còn sợ tốc mái mỗi khi gió lớn, đọc nhiều sách hay, gặp nhiều người thú vị, và vẫn băn khoăn về chuyện ngày mai ăn gì.

    Giang đã trả nợ xong cho gia đình, chuyển việc 2 lần, có bạn chung nhà, dịch bài 10 năm cho phantichkinhte123.com, góp bài vào 2 quyển sách đã xuất bản, biên tập 1 quyển, 1 quyển dịch sắp in, học về tâm lý, học về lịch sử, quay lại học tiếng Đức và tiếng Pháp. Và điều quan trọng nhất đến lúc này, là chấp nhận bản thân là một người bình thường, xem điều đó như một đặc ân thay vì một lời nguyền. Cảm ơn bản thân tuổi 22 đã không bỏ cuộc, cảm ơn đã chuẩn bị thật tốt cho mình ở 10 năm sau.

    Năm 2025 này, lại tiếp tục tận hưởng mỗi ngày qua nhé, Giang ơi.

    Giang Nguyễn

    2/2/2025

  • Học chậm #4 Con người mà tôi đã không trở thành

    Năm 2025 đánh dấu 10 năm Giang bước chân vào thế giới công sở, nhanh như một cái chớp mắt. Đã tới cái lúc mà Giang bắt đầu được các bạn nhỏ nhắn hỏi về sự nghiệp, rằng em nên đi làm ở đâu, nhận việc nào, học cái gì. Giang không thể tự tin mà khuyên nhủ các bạn như anh họ Giang đã khuyên nhủ Giang ngày đó, bởi thế giới đang thay đổi quá nhanh và sự khác biệt giữa các thế hệ đang lớn hơn bao giờ hết, nên những kinh nghiệm của Giang hay của những người lớn có thể không còn phù hợp nữa. Nhưng nếu các bạn cần, thì đây là vài ghi chú của mình, hãy đọc và thật cẩn trọng kiểm chứng chúng nha.

    1. Luôn có khoảng cách giữa kì vọng và thực tế. Và chúng ta không thể quay ngược thời gian, những thứ bạn ra quyết định ĐÃ LÀ TỐT NHẤT VÀO LÚC ĐÓ với những thông tin mà bạn có thể tiếp cận được và khả năng phân tích, ra quyết định của bạn vào lúc đó. Cái ta có thể làm lúc này, là học cách ra quyết định tốt hơn, dựa vào mình và dựa vào người thông qua sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa dữ liệu và chuyên gia.
    2. Ta có thể không trở thành phiên bản mình mong muốn. Không có ước mơ, không biết mình muốn gì, tới chừng này tuổi vẫn không đạt được những thứ mình từng mơ. Mà ngừng lại chút xem, chúng ta sống trong đời thực chứ không phải trong mơ mà? Sự nghiệp đâu có nhất thiết phải trùng với ước mơ?
    3. Khi rời bỏ một công việc, một sự nghiệp đã xây dựng bao năm, không hẳn là bạn bắt đầu lại từ đầu. Những thứ bạn đã mang theo, đã gây dựng có thể trở thành tảng đá xây cầu hay chắn đường, còn tùy vào con đường bạn đi.
    4. Sẽ có những lúc mình không thích đi làm, y như ngày xưa mình không ưa đi học. Sẽ có những lúc phải cắn răng làm việc mình không thích để có tiền ăn. Ít nhất nhớ để dành một ít đảm bảo mình không đói bụng, thì mới có sức mà mơ.
    5. Hãy cẩn thận với những điều bạn mơ ước. Như đồ ăn, có những món ăn một chút thì ngon, ăn hàng ngày sẽ là một sự tra tấn.

    Trong mười năm làm người lớn, Giang đã không trở thành bác sĩ, vốn là ước mơ từ hồi 7 tuổi tới 15 tuổi. Giang không trở thành dịch giả/ biên tập viên như giấc mơ năm 21. Giang cũng không trở thành team lead như đã thỏ thẻ với sếp năm 22 tuổi.

    Vậy, Giang đã trở thành ai?

    Qua mười năm, Giang từ một người 22 tuổi thành một người 32 tuổi. Giang cười nhiều hơn, kemeno nhiều hơn, ở trong một ngôi nhà không còn sợ tốc mái mỗi khi gió lớn, đọc nhiều sách hay, gặp nhiều người thú vị, và vẫn băn khoăn về chuyện ngày mai ăn gì.

    Giang đã trả nợ xong cho gia đình, chuyển việc 2 lần, có bạn chung nhà, dịch bài 10 năm cho phantichkinhte123.com, góp bài vào 2 quyển sách đã xuất bản, biên tập 1 quyển, 1 quyển dịch sắp in, học về tâm lý, học về lịch sử, quay lại học tiếng Đức và tiếng Pháp. Và điều quan trọng nhất đến lúc này, là chấp nhận bản thân là một người bình thường, xem điều đó như một đặc ân thay vì một lời nguyền. Cảm ơn bản thân tuổi 22 đã không bỏ cuộc, cảm ơn đã chuẩn bị thật tốt cho mình ở 10 năm sau.

    Năm 2025 này, lại tiếp tục tận hưởng mỗi ngày qua nhé, Giang ơi.

    Giang Nguyễn

    2/2/2025

  • Học chậm #3 Scope creep

    Những lúc stress, mình hay đi dọn nhà. Bạn chung nhà mình thì ngược lại, thường trì hoãn việc dọn nhà. Nó đến từ hai cảm giác khác nhau:

    1. Dọn dẹp cho mình cảm giác làm chủ. Mỗi khi “bế tắc” nghĩ không thông, việc đặt để một cái gì đó vào đúng chỗ khiến mình lấy lại được một chút quyền kiểm soát cuộc đời mình, và từ đó có động lực để giải quyết những chuyện lớn hơn. Đây là mẹo để mình có được “quick win”, hay “hòn tuyết lăn”.
    2. Ngược lại, bạn nhà mình lại dễ căng thẳng vì không biết dọn dẹp có quy mô như thế nào. Với bạn, cần phải giới hạn phạm vi thật rõ: chén đĩa trên bàn ăn cần cất hết sau khi ăn, quần áo trong giỏ cần bỏ hết vào máy giặt… Bạn sẽ không dành thời gian để đi khắp nhà nhặt chén hay nhặt quần áo lẻ tẻ rải rác, vì nó không nằm trong “scope”. Không phải là lười biếng, chỉ là, nó nằm quá khả năng kiểm soát của bạn. Trong lúc đọc về BA mình học được từ “Scope creep” /skəʊp kriːp/ (danh từ), hay được nói vui là cơn ác mộng “ủa em”, việc liên tục thay đổi mục tiêu và yêu cầu dự án, dẫn đến việc những thứ đã làm đổ sông đổ bể phải làm lại.

    Để đối mặt với scope creep thì không có cách nào khác hơn là phải định nghĩa scope của dự án. Theo Business Analysis Methodology Book, các loại dự án trong công ty có thể chia làm 3 loại, ứng với các loại business requirement như sau:

    Loại tài liệuÁp dụng cho loại dự ánNội dung chínhĐặc điểm nổi bật
    Business-Case DocumentLoại A (dự án lớn, tác động cấp doanh nghiệp)– Business Requirements: Lý do sản phẩm mới cần thiết
    – Scope: Định nghĩa và ưu tiên các tính năng sản phẩm
    – Context: Phân tích tích hợp với các hệ thống/sản phẩm khác
    – Cost vs. Benefit Analysis: Phân tích khả thi dựa trên phạm vi xác định
    – Risks: Nhận diện và giảm thiểu rủi ro
    Yêu cầu chi tiết và phân tích sâu để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của sản phẩm.
    Vision and Scope DocumentLoại B (dự án vừa và nhỏ)– Mô tả tính năng sản phẩm trong mỗi phiên bản
    – Cung cấp thông tin tích hợp cấp cao với các sản phẩm/hệ thống khác
    Tập trung vào sản phẩm đề xuất với sự tích hợp tổng quan, phù hợp với quy mô trung bình và nhỏ.
    SOW (Statement of Work)Loại C (cải tiến hoặc sửa đổi sản phẩm có sẵn)– Mô tả nhu cầu kinh doanh trong 1 trang giấyTối giản tài liệu, phù hợp cho các yêu cầu nhỏ, thời gian thực hiện dưới 1 tháng.

    Những thứ mình học/đọc/xem trong tuần và thấy đáng suy nghĩ thêm:

    1. 2 quyển sách cũ (năm 2020) về nghề Digital marketing và Influencer:
      • 3R của KOL: Reach, Relevant, Reasonate
      • 3 yếu tố của influencer thành công: có màu riêng, có câu chuyện để khai thác, nhất quán
      • cái gì viral: đẹp, vui, rực rỡ, mới (ủa rồi sự buồn bã và u ám thì sao?)
      • Xử lý khủng hoảng truyền thông: Né tâm bão, suy nghĩ kĩ và lên tiếng một lần duy nhất, chân thành + thẳng thắn + mạnh mẽ
      • Câu hỏi phỏng vấn: “are you serious with…”: bạn nghiêm túc với thứ gì đó đến mức nào, thể hiện qua việc bạn sống với nghề, cập nhật xu hướng mới, tiếp xúc với người làm nghề…
    2. On writing well: Sau nhiều năm viết bản năng, mình đang học lại cách viết. Đây là những quyển mình đang đọc:
      • Thuật viết văn (Nguyễn Văn Hầu)
      • Viết tin bài đăng báo (Ngọc Trân)
      • Khám phá nghề biên tập (Ngọc Trân)

    Và thế là, cũng hơi nhiều cho một tuần rồi nhỉ.

    2025.01.20

  • Học chậm #2 Chuyện ước lượng khối lượng công việc

    Khi mới đi làm, có những lúc mình phải OT triền miên. Công việc thì chậm, chất lượng kém, càng làm càng sai, lại phải giải trình và chỉnh sửa, khiến mình càng thêm áp lực. Mọi chuyện chỉ thay đổi khi một người chị gợi ý: “Em phải ước lượng được công việc của mình tốn bao nhiêu thời gian, công sức, để những người làm chung có thể hỗ trợ em.” Đây là lần đầu tiên mình tiếp xúc với khái niệm workload estimation.

    Từ ước lượng việc mình, đến ước lượng việc của team

    Ban đầu, mình bắt đầu bằng việc ghi lại danh sách các đầu việc, theo dõi và ghi chép thời gian hoàn thành từng công việc. Sau đó, mình so sánh với số giờ làm việc tiêu chuẩn (22 ngày/tháng cho tuần làm 5 ngày). Kết quả cho thấy, mình đang làm việc quá tải tới 150% so với tiêu chuẩn, và với dữ liệu này, mình thuyết phục được team cho tuyển thêm một intern.

    Khi chuyển sang công ty mới, mình lại thực hiện workload estimation nhưng ở cấp độ của toàn team TA. Ban đầu mình gợi ý mọi người ghi lại danh sách công việc và bấm giờ bằng Toggle, nhưng team cho rằng có rất nhiều việc “không tên” và tốn ít thời gian quá (ví dụ, hỏi thăm hiring manager về việc review CV) thì không đáng để ghi xuống. Mình nghĩ đến việc phải làm cho việc ghi chép này dễ dàng hơn, bằng cách mô tả được tất cả các đầu việc mà team đang làm. Mình dựa trên một lý thuyết cơ bản nhất trong Nhân sự, là vòng đời nhân viên (employee lifecycle) và mô hình IPO (Input – Process – Output) để định vị vai trò, trách nhiệm của team TA trong từng giai đoạn của vòng đời đó trong mối quan hệ với các bên liên quan. Từ đó, mình liệt kê được một danh sách cơ bản các đầu việc của team TA để các bạn leader có thể điền thông tin, chỉnh sửa và bổ sung. Khối lượng công việc (tuyển được bao nhiêu người, trong bao lâu, từ các kênh nào…) được tham khảo từ dữ liệu thực tế từ dashboard (như hiring funnel) kết hợp với input từ các bạn trong team. Từ đó, mình xây dựng được ước lượng được thời gian mà team đang bỏ ra cho từng loại công việc. Kết quả là team được tái cấu trúc: một nhóm tập trung vào admin onboarding và chăm sóc trải nghiệm ứng viên, trong khi các recruiter chuyên tâm vào việc tìm người phù hợp.

    Khi TA Manager hỏi mình rằng danh sách đầu việc mà team input được xây dựa trên template có sẵn hay tự xây, mình trả lời rằng đó là cách mình tự phát triển. Tuy nhiên, sau này khi học môn Định mức lao động, mình tình cờ nhận ra rằng cách làm của mình thực ra đúng phương pháp bài bản. Lần đó là mình hên, nhưng có học hành chỉn chu chắc chắn mình sẽ làm nhanh và chuẩn hơn với những từ khóa chuẩn mực để tham khảo, thay vì loay hoay thử và sai như vậy. Mình cũng rất vui là dựa vào quan sát và hiểu biết thực tế về lĩnh vực nhân sự, nên mình đã dựa trên những kiến thức quen thuộc với cách nghĩ của các bạn và nhận được sự tin tưởng từ các bên trong việc nhập dữ liệu vào.

    Giữa mục tiêu và nguồn lực, tìm đâu ra động lực bớt lười?

    Workload estimation không chỉ áp dụng trong công việc mà còn trong đời sống cá nhân. Một người bạn của mình từng chia sẻ về áp lực giữa việc kiếm sống, học hành để phát triển, và theo đuổi dự án riêng. Tất cả khiến bạn kiệt sức nhưng vẫn cảm thấy mình chưa làm đủ. Câu chuyện này đánh động tâm can mình, vì bản thân mình cũng có lúc rơi vào tình trạng tương tự. Càng mệt, mình lại càng nghĩ đến những việc chưa làm xong, như một vòng lặp không lối thoát.

    Những lúc đó, mình cố gắng để những deadline, plan sang một bên, và ngồi xuống, tính toán lại nguồn lực của mình. Mình chỉ có một tấm thân này, một cuộc đời này, và mình không phải ba đầu sáu tay, mình cũng chỉ có 24h một ngày như bao người khác. Mình có trách nhiệm với bản thân và những người khác, có ước mơ trong tương lai, và có những vấn đề chưa giải quyết. Viết xuống những điều này trong một tờ giấy giúp mình có cảm giác kiểm soát hơn một chút, và chấp nhận rằng mình sẽ phải buông bỏ một số thứ, để làm sau hoặc giao cho ai đó làm giúp. Thay vì chỉ nhìn vào những mục tiêu không đạt được, mình tạo một mục “unplanned achievement” khi tổng kết năm. Nhờ đó, dù chỉ đạt 0.5/4 mục tiêu theo kế hoạch, mình vẫn nhận ra 5 thành tựu khác, đến từ niềm vui và những cơ hội ngẫu nhiên. Điều này giúp mình giảm áp lực và khơi lại động lực làm việc.
    Mình từng đọc ở đâu đó, rằng người ta đánh giá quá cao những việc có thể làm trong một năm, và đánh giá quá thấp những việc có thể làm trong 10 năm. Đã 10 năm trôi qua kể từ khi mình bắt đầu đi làm, và nhìn lại mình cảm thấy mình không giống bao nhiêu so với tưởng tượng khi ấy, nhưng là một phiên bản mà mình có thể tự hào mà nói với Giang tuổi 22 rằng hãy yên tâm, bạn đã chuẩn bị cho mình tốt quá rồi.

    Niềm vui sắp xếp

    Khi làm workload estimation cho bản thân vào đầu năm nay, mình nhận ra bản thân có xu hướng làm nhiều những đầu việc liên quan đến sắp xếp, lên kế hoạch. Mình yêu thích việc sắp xếp ở nhiều khía cạnh trong cuộc sống. Có ai ngờ, giữa muôn vàn những thứ mình học, mình làm, mình chơi, từ điều phối lớp học, chạy sự kiện, làm data, làm thủ công, vẽ vời, tâm hồn sắp xếp của mình như một dòng chảy xuyên suốt trong tất cả.

    • Khi làm data: việc tìm kiếm data provider, sắp xếp các nguồn dữ liệu, thiết kế data flow, modelling process, và viết mô tả về data (metadata) khiến mình hứng thú hơn cả trong số những công việc liên quan đến data.
    • Khi học vẽ: mình có thể không kiên nhẫn ngồi luyện vẽ dáng người, nhưng lại tò mò về việc có bao nhiêu cách giản lược hình dáng con người (người que, người bao, người sao, người bún đậu (bean pole)…) hay có bao nhiêu cách vẽ mắt 😀
    • Khi làm thủ công: mình có thể ngồi hàng giờ để sắp chỉ theo màu, dù không đủ kiên nhẫn thêu hết một hình nhỏ; có thể tìm hiểu về các loại kim móc trên thế giới và các kiểu móc, nhưng thứ lớn nhất mà mình từng móc là một bạn gấu bé xinh bằng lòng bàn tay 😛

    Nhưng đây là điều đối nghịch: mình thấy vui khi mọi thứ ở đúng chỗ, nhưng về đời sống “vật chất” mình lại là đứa khá bừa bộn ở nhà, chỉ bật mode “phù thủy dọn dẹp” những lúc mình stress. Do đó, mình không thể trở thành Marie Kondo hay The Home Edit, nhưng mình muốn rủ rê bạn cùng dọn dẹp “đời sống số” của chúng ta. Bạn biết sao không, việc này sẽ giúp chúng ta chuẩn bị cho việc ứng dụng AI đó. Việc ứng dụng AI giống như nhà có một em bé tò mò, sẽ khám phá mọi ngóc ngách trong nhà. Nếu có cánh cửa nào đáng lẽ phải khóa mà không khóa, em bé sẽ vào và tiết lộ những điều không ngờ tới. Vì vậy, dọn dẹp dữ liệu sẽ giúp bạn chuẩn bị tốt để giảm thiểu rủi ro về an toàn bảo mật dữ liệu, đồng thời giúp bạn có những bộ dữ liệu tốt, cá nhân hóa để tạo những “trợ lý AI” có mức độ chuyên môn hóa cao cho bản thân. 

    Mình đã tạo một sự kiện hàng tháng vào thứ 7 thứ 2 của tháng (tức là từ hôm nay nè) để mọi người cùng nhau sắp xếp “đời sống số”. Tụi mình cùng dọn dẹp hén, có thể là kho ảnh trong điện thoại, album trên Facebook, friendlist, bookmark, folder Google Drive, iCloud, hay các trang trên Notion… Tụi mình sẽ cùng nhau coi thử lúc dọn dẹp có thể gặp những vấn đề gì, phân loại ra sao, back up thế nào…

    Tài liệu tham khảo đây nha: https://libraries.mit.edu/data-management/services/workshops/

    Giang Nguyen, 20250111

  • Học chậm #1

    Tóm tắt: Agile, Scrum, software, dystopia, working mom, language learning

    1. Agile & Scrum?

    Hỏi: Agile và Scrum giải quyết vấn đề gì?

    Đáp: Agile ra đời để tăng tính linh hoạt trong phát triển phần mềm, giúp phản hồi nhanh với thay đổi và cung cấp giá trị sớm hơn so với Waterfall. Scrum cụ thể hóa Agile bằng cách tổ chức công việc theo các chu kỳ ngắn (Sprint), tạo sự minh bạch và cải thiện hợp tác nhóm. Cả hai đều giúp giảm rủi ro và tối ưu hóa kết quả trong môi trường không ngừng thay đổi.

    Từ vựng mở rộng:

    • Software Development Life Cycle:
      • Khái niệm SDLC hình thành vào thập niên 1960-70 nhằm giải quyết sự phức tạp ngày càng tăng trong phát triển phần mềm, đặc biệt sau khủng hoảng phần mềm. Nó cung cấp một khung lý thuyết với các giai đoạn rõ ràng như yêu cầu, thiết kế, phát triển và bảo trì để đảm bảo chất lượng và quản lý chi phí. Mô hình Waterfall là một trong những cách triển khai đầu tiên của SDLC.
    • Waterfall (được Winston W. Royce trình bày năm 1970) là một trong những mô hình SDLC đầu tiên, nhấn mạnh quy trình phát triển theo từng bước rõ ràng.
    • Software crisis (1960s)
      • Thuật ngữ này được đặt ra vào cuối thập niên 1960, khi các dự án phần mềm liên tục thất bại do không đáp ứng được tiến độ, ngân sách hoặc chất lượng mong đợi.
      • Trước 1960, phần mềm tồn tại nhưng không được xem là một sản phẩm có “vòng đời” cần quản lý chặt chẽ. Phần mềm lúc đó chủ yếu phục vụ mục đích cụ thể, nhỏ lẻ, và không có sự phân biệt rõ ràng giữa phát triển, thử nghiệm, và bảo trì. Chính sự gia tăng về quy mô và chi phí của phần mềm vào thập niên 1960-70 đã dẫn đến nhu cầu quản lý vòng đời phát triển phần mềm, đặt nền móng cho SDLC và các phương pháp phát triển hiện đại như Agile và Scrum.

    Nguồn ảnh: https://www.geeksforgeeks.org/software-engineering-software-crisis/

    PMBOK Handy Guide: https://www.eyapro.com/project-management/pmbok-7th-handy-guide

    2. Career and Family

    Tuần này Giang đã dịch xong chương 1 của cuốn Career and Family. Thú vị nhưng hơi nặng nề. Giang sẽ trích dẫn vào tuần sau nhe.

    3. Danh sách từ vựng “đầu tiên” khi học bất kì một ngôn ngữ mới?

    Gần đây Giang đang quay lại việc học ngoại ngữ (tiếng Nhật và tiếng Đức). Câu hỏi Giang đặt ra là, liệu có chăng một danh sách các từ thông dụng phổ biến ở hầu hết các ngôn ngữ, để người học có thể bắt đầu? Sau đây là các danh sách mà Giang tìm được:

    • First 625 Words (Gabriel Wyner): 625 từ, tập trung vào những từ cụ thể, dễ hình dung, phù hợp cho người mới bắt đầu, có 2 phiên bản xếp theo alphabet hoặc theo chủ đề; nhưng thiếu cơ sở khoa học, không phản ánh tần suất sử dụng thực tế.
    • Swadesh List: gồm 100 hoặc 207 từ, phù hợp để so sánh ngôn ngữ học lịch sử, nhưng không thực tế cho giao tiếp hàng ngày.
    • New General Service List (NGSL): 2818 từ hiện đại trong tiếng Anh
    • Academic Word List (AWL): 570 word families, tập trung vào ngữ cảnh học thuật, không phù hợp để giao tiếp cơ bản.
    • COCA Frequency List: Phản ánh ngôn ngữ hiện đại, dựa trên corpus lớn, và (vẫn) chỉ áp dụng cho tiếng Anh Mỹ.

    Với nhu cầu của bản thân, Giang sẽ bắt đầu với First 625 words để có cảm hứng, đọc hiểu được một số meme và truyện tranh, kế đó Giang sẽ chuyển qua NGSL để giao tiếp cơ bản, và sau đó là AWL để có thể đọc sách non-fiction và xem phim tài liệu. Nhân đây Giang cũng mới kiếm ra cái tool này thể hiện mối liên hệ giữa các từ như một cái map, mời bạn coi chơi: https://wordmapdictionary.com/

    Tuần này Giang đã coi và đọc:

    Phim:

    1. When the phone rings: 4.5 sao, chủ đề tưởng tổng tài 3 xu mất não nhưng mà càng coi càng thấy biên kịch làm tốt phần xây dựng nhân vật và truyền tải nhiều thông điệp hữu ích
    2. Upstream: 5 sao, vừa coi vừa rớt nước mắt, chủ đề nặng nề và thực tế

    Sách (chưa đọc xong cuốn nào hết trơn…)

    1. Từ xác định đến bất định
    2. Lịch sử vú
    3. Lịch sử vợ
    4. Về bản tính người

    Sách chờ đọc:

    1. Big Fat Notebook: Computer Science and Coding
    2. Origami Việt Nam chuyện của giấy: mua vì nhớ ông anh Hai của mình quá xá https://origami.vn/

    Một tuần mới lại đến. Chúc tụi mình nhiều nhiều sức khỏe nha

    Giang Nguyen, 2025.01.05

  • “Học chậm” #0

    Năm 2025 là một năm đặc biệt với mình:

    • Đánh dấu 10 năm mình bước chân vào thế giới đi làm.
    • Một năm chính phương – vuông vắn, mà cũng đầy những góc cạnh chưa biết trước.
    • Và mình thì ngày càng có nhiều thứ muốn tám.

    Vậy nên hôm nay, mình khai trương series “Học Chậm”, lấy cảm hứng từ “Đọc Chậm” của bác Hồ Quốc Tuấn.

    Mình đã có một Substack nơi mình chia sẻ chuyện làm nghề “nghiêm túc”, một Facebook nơi mình thoải mái tám xàm, vui vẻ, và một trang WordPress này với đầy những thứ mơ hồ và lộn xộn. Năm nay, mình muốn mang phần “mơ hồ” và “thay đổi” ra ánh sáng, để chia sẻ với thế giới. Những điều ấy thể hiện trong những thứ mình học, những gì mình tò mò, và cả những dự án nhỏ xíu mình đang ấp ủ.

    Có thể ở đây, bạn sẽ không tìm thấy những con đường tắt, hay câu trả lời dễ dàng. Thay vào đó, mình ở đây để kể về những loay hoay, những lần thử rồi sai, những tiếng cười (và có thể cả những tiếng thở dài). Và mình hy vọng, những câu chuyện ấy sẽ là tiếng gọi nhỏ nhoi, chạm đến ai đó đồng điệu.

    Chào bạn, đây là phiên bản “chậm chạp” của Giang. Chúng ta cùng bắt đầu nhé.

    Giang Nguyễn, 5.1.2025

  • Sự zô tree dẫn ta đi xa

    Mùa hè này mình cùng gia đình đi du lịch Krungthep Mahanakhon. Đi cùng là hai đứa em đang tuổi đôi mươi, sự vô tri khủng khiếp của tụi nó khiến mình mắc cười và cũng khiến mình bồi hồi. Mình nhận ra:

    1. Vô tri khiến người ta dám thử và có thêm nhiều trải nghiệm. Mình thì rất sợ tốc độ bàn thờ của Grab Bike và Tuk Tuk của Thái, còn tụi nhỏ thì tranh thủ lúc mình nghỉ mệt thử hết, thậm chí còn rủ nhau đua xem Grab của ai đến nơi sau thì đứa đó phải mua nước cho đứa còn lại. Tụi nó kể với gương mặt hồng lên vì phấn khích! Tụi nhỏ còn mua mì, trứng, coke, tổ chức ăn đêm, khiến người mẹ ngại ăn đêm như mẹ mình cũng hào hứng tham gia. Nếu chỉ có mình, chắc mình không nghĩ tới những hoạt động gắn kết gia đình nho nhỏ vui vui như vậy.
    2. Vô tri khiến tụi nhỏ bị sai đôi khi, nhưng hậu quả không quá tệ như mình tưởng tượng. Tụi nhỏ tự đi tàu điện, xuống trạm sớm, xuống lố trạm… nhưng cuối cùng cũng về nhà bình an. Qua đó mình hiểu được những cách xử lý các tình huống đó trong thiết kế vận hành tàu điện, ví dụ như trả thêm tiền nếu xuống quá trạm, hoặc mua vé lại. Mình cũng thấy tụi nhỏ lanh lẹ, biết hỏi thăm, biết linh động phương tiện di chuyển. Nỗi lo đã nhẹ bớt, nên lần sau chắc sẽ tự tin giao cho tụi nhỏ thêm nhiều việc khác.
    3. Vô tri là điều tụi nhỏ dám làm, dám thử, mà sao ngày xưa mình không dám? Mình cứ tự hỏi hoài câu hỏi đó, và tự nhủ, có lẽ vì tụi nhỏ đã ở vạch đích mà mình mơ ước khi xưa. Khi còn học đại học, nhà còn mang nợ, tiền cơm tiền trọ phải tính từng đồng, mình không dám xuống sai bus, không dám đi xe ôm, nhưng tụi nhỏ có thể. Mình thấy vui vì mình đã ở vị thế tốt hơn, làm chỗ dựa tốt hơn cho tụi nhỏ. Mặt khác, mình cũng học tụi nhỏ một điều, là mình có thể thử và sai, bởi mình có nhiều nguồn lực hơn để làm lại, sửa lại.

    Hồi lâu, có người nói với mình rằng “lòng can đảm dẫn ta đi xa”, nhưng nay nhìn hai đứa em, mình muốn bổ sung thêm rằng để bắt đầu chuyến đi xa ấy, có lẽ cần thêm sự “vô tri”, với nghĩa là sự ngây thơ và lòng háo hức dấn thân, như lá The Fool của bộ Tarot. Còn sự can đảm, có lẽ là thứ có được sau khi đã vấp váp và mất mát nhưng vẫn có thể vượt qua và tiếp tục hành trình.

    Vậy là kì nghỉ lễ cuối cùng của năm 2024 đã đi qua. Và, mình lại tiếp tục “chiến đấu với tư bản”, kiếm tiền cho cuộc đi chơi tiếp theo.

    20240409

    Giang Nguyễn

  • Sống cùng sự nhàm chán và vô nghĩa

    Mỗi mùa phim qua, thiên hạ sẽ bổ sung thêm một câu vào kho thả thính. Năm ngoái là “I love you 3000”, năm nay là “Cho dù ở vũ trụ nào, anh cũng muốn giặt giũ và đóng thuế cùng em”.

    Mình, với tư cách là một con người, mỏi mòn tìm ý nghĩa. Mình muốn mình thiệt là đặc biệt, mình muốn cuộc đời mình thiệt là đáng sống. Nhưng đặc biệt so với cái gì, và đáng sống so với cái gì kia?

  • 20240404 Mình nói gì khi học cùng mẹ cha?

    Khi mình còn nhỏ, và ngay cả bây giờ, câu cửa miệng của mẹ là “làm cái đó coi chừng…”. Nó là cách mẹ bảo vệ mình khỏi những thứ mà mẹ nghĩ là nguy hiểm, như tai nạn, như sự khác người, sự dèm pha của người đời, như nước sôi, mụn nhọt, bệnh tật, vân vân và mây mây. Thế giới này đầy rẫy hiểm nguy trong mắt mẹ, mẹ chỉ muốn mãi ôm tụi mình trong tay.

    Năm 2006-2007 khi ba mua cho chiếc máy tính đầu tiên và nối mạng, ba mẹ nói “lên mạng không được chat lung tung với người lạ, coi chừng bị lừa”. Mình vẫn chat với người lạ, có bạn trở thành bạn thân thiết cả mười mấy năm nay, dĩ nhiên là không nói cho ba mẹ biết. Không gian mạng khi ấy là một chốn an toàn để né khỏi những ánh mắt dò xét của phụ huynh, và mình tận hưởng nó lắm lắm.

    Rồi lại hơn mười năm nữa qua đi và mình trở thành người lớn. Việc lên mạng giờ đã đơn giản đến mức chỉ cần mở một chiếc điện thoại và nhấn vào một cái nút. Mẹ cũng đã có tài khoản Facebook, và mình trở thành “Bạn bè” với mẹ. Giờ đây thì mình trở thành người nói “coi chừng…”

    Mẹ ơi, lên mạng đừng nói chuyện với người lạ coi chừng bị người ta lừa. Coi chừng, đừng nhấn vô mấy cái đường dẫn bậy bạ, mất tài khoản như chơi. Đừng nhấn vô quảng cáo. Đừng đừng và đừng.

    Rồi mình nhận ra mình trở thành phiên bản bất lực của mẹ ngày xưa. Mẹ đang làm gì đó ở một nơi mà mình không biết, mà cái thế giới đó, mình lăn lộn trong đó trước mẹ cả chục năm, mình rành nó hơn mẹ chớ! Nhưng mình làm được gì khi mình ở cách mẹ 200 cây số, và mẹ thì chẳng biết chia sẻ màn hình để mình hướng dẫn từ xa cho mẹ.

    Lần này mẹ xuống Sài Gòn khám bệnh hai ngày, mình sau nhiều chần chừ đã ngỏ lời để mẹ cho mình hướng dẫn mẹ dùng điện thoại thông minh cho an toàn (theo chuẩn của mình).

    Buổi đầu tiên, mình bất ngờ khi được biết mẹ ngoài những thứ mình thấy mẹ thường làm (chụp ảnh, lướt Facebook, chat với con, coi Youtube, đọc Báo Mới), hóa ra mẹ đã biết viết vào app Ghi chú, dùng nó để ghi đơn đặt hàng và ghi sổ nợ, dù lẫn lộn file và folder. Với một chút so sánh về sổ giấy và sổ điện tử, mẹ nắm bắt rất nhanh. Mẹ có một niềm háo hức được ứng dụng cái máy nho nhỏ trong tay, chứ không phải khư khư quyển sổ như hình ảnh mình thường thấy.

    Buổi thứ hai, mình giới thiệu mẹ học tiếng Anh bằng ứng dụng Duolingo. Mẹ vẫn còn nhớ được một số từ đơn giản, và nói thêm là hồi lớp Ba anh Hai đã dạy mẹ. Lại là một điều bất ngờ khác! Hóa ra, anh Hai mình đã được tiếp cận tiếng Anh từ sớm ở trường tiểu học, dù lớp tiếng Anh đó bị gián đoạn do không tìm được giáo viên (năm 1996-97, Bảo Lộc vẫn là một vùng núi hẻo lánh). Mình mang ơn điều đó, vì như một sự tiếp nối, ba cũng đã cho mình đi học tiếng Anh từ lớp Ba dù trường tiểu học của mình không dạy, tạo cho mình lợi thế cạnh tranh rất lớn so với bạn bè từ đó và mãi sau này. Mẹ nói mẹ có bảo dì học tiếng Anh, vì con dì lấy một người nước ngoài và cháu dì thì nói tiếng Anh ở nhà mà lắm khi dì cũng chẳng hiểu. Mình nói, nếu mẹ có thể hiểu một chút xíu tiếng Anh, việc đi nước ngoài sẽ dễ chịu hơn rất nhiều. Mẹ nghe vậy thì háo hức lắm 😀

    Hôm nọ, trong một cuộc trò chuyện về tình hình ứng dụng AI, mình đã nói với bạn mình rằng mình đang phải áp dụng parental control với tài khoản Youtube của mẹ, để tránh mẹ bị gợi ý những thông tin sai lệch. Tụi mình cười ồ, nhưng ngay sau đó, mình cảm thấy buồn, vì tuy chẳng làm gì, mẹ vẫn bị làn sóng công nghệ này ảnh hưởng rất lớn, mà mình thì lại chẳng ở đủ gần để đồng hành cùng mẹ trên thế giới mạng. Nhưng cũng như mình ngày xưa, mẹ đã học cách xoay sở và tự bảo vệ bản thân ở đó. Cái mình có thể làm, là bớt dọa mẹ bằng “coi chừng” và cho mẹ sự tự tin rằng “sai cũng được, tụi con ở đây sửa lỗi cùng mẹ”.

    Giang Nguyễn

    20240404

  • Giang’s Curation List W16: Profit First, và Global Citizen

    1. Profit First – một góc nhìn mới về thứ tự phân bổ dòng tiền
      Bạn Giang được anh mentor giới thiệu cuốn này từ 2020, nhưng mãi đến lúc này mới có dịp dùng đến. Cuốn này có thể được xếp vào tuyển tập sách vả mặt 😉
      Về cơ bản, ai cũng biết Doanh thu – Chi phí = Lợi nhuận, nhưng tác giả đảo ngược công thức thành Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí. Điều này có nghĩa là gì?
      Đầu tiên, business phải có lợi nhuận, nếu không thì làm từ thiện cho rồi. Thế nên thay vì trả hết các hóa đơn trước, thì phải bỏ vào Lợi nhuận trước, dù là nhỏ (1% – như tác giả gợi ý).
      Thứ hai, chủ doanh nghiệp là nhân viên quan trọng nhất. Thế nên, cũng phải tự chi trả cho chính mình, đừng có nhập nhằng excuse các kiểu, kẻo rơi vào trạng thái lóc thịt mình nuôi con mình.
      Thứ ba, nếu làm theo phương pháp này, chúng ta sẽ có một cảm giác khác về số tiền thật sự được đụng vào để vận hành doanh nghiệp. Không nhiều như ta nghĩ!
      Lần theo câu chuyện của tác giả, Giang có thể đoán là phương pháp Profit First này bắt nguồn từ phương pháp phong bì được mẹ tác giả (thế hệ Lost Generation), được cập nhật thành phương pháp phân chia tài khoản ngân hàng để phù hợp với tình hình hiện nay, và mở rộng phạm vi áp dụng thành doanh nghiệp.
    2. Global Citizen – thế nào là công dân toàn cầu?
      Tuần rồi Giang được một người nước ngoài hỏi rằng mình quan tâm tới chuyện gì, với tư cách là một người trẻ. Mình suy nghĩ, và nói mình nghĩ tới vấn đề danh tính.
      Giang là một đứa trẻ đã bị tách rời khỏi làng quê. Ba mẹ mình di cư từ miền Trung vào Tây Nguyên 40 năm trước, mình tiếp tục từ phố núi xuống Sài Gòn học tập và làm việc đến nay đã 12 năm, trong môi trường công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Mình thường cảm thấy bối rối với câu hỏi “Where are you from?”. Mình nên trả lời là mình đến từ đâu, để không mâu thuẫn với cái mình cảm nhận về bản thân?
      Giang đã trả lời, mình có một danh tính thập cẩm. Mình nghĩ về bản thân với tư cách một người Việt Nam, hơn là một vùng miền cụ thể. Câu chuyện dẫn đến “global citizen”, và mình kể về hai người bạn. Người thứ nhất đi vài chục quốc gia, nói một chục thứ tiếng, đang làm việc ở Mỹ. Người thứ hai, cô ấy nói rằng cô ấy sinh ra đã là global citizen. Mình thích cả hai cách tiếp cận, cách thứ nhất, global citizen is something we must achieve cho mình một mục tiêu, cách thứ hai, global citizen at birth cho mình sự tự tin. Khi gánh nặng áo cơm đã bớt, mình không phải nghĩ ngày mai sẽ ăn gì (à thực ra vẫn có, chỉ là bớt phải nghĩ ăn gì với chừng nào tiền thôi), mình quan sát thấy người ta sẽ quan tâm tới những câu hỏi như mình là ai, mình ở đây làm gì, mình có thể đi đến đâu. Trà Giang của một chục năm trước đã cảm thấy mình thật nghèo nàn và lúng túng giữa biển người thú vị và tài giỏi, nhưng với những gì mình đã tìm hiểu và khám về chính mình, về gia đình, Sài Gòn, Việt Nam, mình cảm thấy đủ giàu có và tự tin để bước tiếp tới thái cực bên kia của “Global citizen”.

    20240416

    Giang Nguyễn