Category: learning

  • Học chậm #6: Học một chủ đề mới toanh như thế nào?

    TL, DR:

    • Giới thiệu 2 tool chính mình thường dùng để học các chủ đề mới được nhanh chóng: Taxonomy và Abductive reasoning
    • Bàn về động lực học và một số cách mình học

    Mình thường nhận được những câu cảm thán như vầy:

    1. “Sao em biết nhiều quá vậy?” (Underlying: Mà nhiều thứ trời ơi đất hỡi ghê :v)
    2. “Biết nhiều vậy để chi?” (Underlying: Rảnh quá hông có việc gì khác làm ha?)

    Mình cũng nghĩ nhiều về cái đó lắm, nên nay mình thử viết xuống để tự trả lời hai câu đó coi sao.

    Câu 1: Sao em biết nhiều quá vậy?

    Mình có 2 biệt danh mà người khác đặt cho, 1 là Giang Google, 2 là Giang Sherlock. (Còn tự đặt chắc mình chỉ tự đặt cái tên Gấu Xù, chứ nào dám tự ghép tên mình với 2 cái đại thụ như vậy).

    Giang Google là biệt danh ở nhóm đồng nghiệp làm đào tạo (Learning & Development – L&D). Ban đầu mình khá ngại với biệt danh này nhưng qua thời gian thì mình cảm thấy cái tên đó cũng hợp lý, vì những cái mình biết thì mình Google là chính 😛 Thành quả là gì? Mình biết khá nhiều thứ trời ơi đất hỡi, và mình cực vui khi tìm thấy sự liên kết giữa những thứ tưởng chừng chẳng liên quan gì đến nhau. Bạn lục trong WordPress mình sẽ thấy, ví dụ, Tarot & problem solving, thú bông và nghề săn bắn…

    Công cụ chính mà Giang Google dùng là Taxonomy – bảng phân loại, để cổ kết nối các ý tưởng mới trên cái cây phân loại có sẵn của cổ, giúp cổ bớt cảnh “râu ông nọ cắm cằm bà kia” 😉

    Biệt danh thứ hai, mới có gần đây thôi, là Giang Sherlock. Vì mình khoái cách mà Sherlock xây giả thuyết, rồi tìm dẫn chứng, rồi lại phản biện nó, rất là khoa học. Mình kể về việc mình áp dụng cách tương tự trong một cuộc phỏng vấn, và bác interviewer có vẻ khoái nó lắm =)) Cũng đúng ha, làm data, làm business analyst, thì cũng là đi thu thập thông tin, xây dựng giả thuyết để trả lời một câu hỏi, rồi tìm dẫn chứng để chấp thuận/phản đối giả thuyết. Bác interviewer (nay là functional manager của mình) đã mô tả mình vầy: “She is the kind of person who will shake every branch of the tree to find the answer”.

    Và cũng như Sherlock, công cụ chính mình dùng là Abductive Reasoning. Nó là tư duy quy nạp, nhưng có tính đến fuzzy logic. Nó không “chết cứng” trong các giả thiết, mà luôn cởi mở để thay đổi kết luận khi có dẫn chứng mới.

    Mình để một số link tham khảo ở đây:


    Câu hỏi thứ hai, “Biết nhiều vậy để chi?”.

    Thực ra, mình không biết. Đến tận bây giờ, những câu hỏi “em sẽ là ai trong 5-10 năm tới” vẫn luôn khiến mình băn khoăn mà. Chắc cảm giác băn khoăn đó lớn quá, nên mình vẫn đang học hoài để coi mình có thể là ai.

    Việc học, theo mình có hai yếu tố:

    1. Muốn học
    2. Kĩ năng học

    Mục số 1, nếu ai đó hỏi là sao mình có động lực học, trước thì mình chỉ có thể trả lời là mình tò mò, kiểu, tự nhiên nó vậy. Sau này mình phát hiện ra mình tự học nhiều qua sách vở vì khi còn nhỏ mình ít bạn, anh chị thì lớn, không có mấy dịp được trò chuyện với người, mà nhà mình lẫn nhà bác có sẵn mấy bộ bách khoa thư cho trẻ em nên mình đọc giải khuây, được khen là “có vẻ ham học”, lâu dần thì hình thành thói quen đọc văn bản dài, mà đọc nhiều thì có sẵn câu trả lời trong đầu cho mấy câu đố dạng trivia, được khen tiếp, lại đọc tiếp, tới một ngày không ai khen cũng đọc, cũng học =)) Gần đây mình hay đùa là nếu em có người chơi cùng, chắc em không đọc nhiều dữ vậy, mệt lắm.

    Mục số 2, về kĩ năng học, đặc biệt là học những thứ mới, thì vài kĩ năng mình hay áp dụng và thấy hiệu quả là vầy:

    1. Browse: áp dụng khi mình rảnh và có sẵn một cái kho (ví dụ, intranet, thư viện), mình cứ tìm theo tên người, theo phòng ban, xem thử nghiệp vụ của họ là gì, plan các năm qua, meeting minutes, etc. Kết quả của việc này là mình có một bức tranh đại khái về việc người ta làm, các outcome là gì…
    2. Search: áp dụng khi mình có ít thời gian và/hoặc có từ khóa. Mình sẽ bắt một từ khóa rồi mở rộng trường từ vựng, xây một cái Taxonomy. ví dụ: martech -> digital marketing -> marketing strategy, etc. Khi mình đã mở rộng được đến từ vựng đủ “bự” để coi là một chuyên ngành thì tìm đến các hiệp hội hoặc text book/ syllabus của trường đại học để hiểu về standard của ngành.
    3. Translate, Map & Modelling: Việc tiếp theo, là dịch ngôn ngữ của người ta thành ngôn ngữ của mình. Mình thường dùng vài model đơn giản, ví dụ: Quá khứ – Hiện tại – Tương lai; Input – Process – Output; Ý kiến – Data – Hành động; Bức tranh nhỏ – bức tranh lớn; Zoom in – Zoom out; … Mình có xu hướng dùng những ẩn dụ/ metaphor mà đa số người ta ít nhiều quen thuộc ví dụ như nấu ăn, dùng bản đồ, xây nhà…
    4. Validate với chuyên gia: sau khi có trong tay: vấn đề chính của ngành, quy trình, landscape…, mình sẽ tìm cách nói chuyện với một chuyên gia trong ngành gần nhất mà mình có thể tiếp cận để xem mình có thực sự hiểu đúng, và các trend gần nhất là gì.
    5. Làm: Tìm một dự án gì đó để làm, hoặc tổng hợp cái mình biết thành một bài viết. Tìm cách mô tả nó bằng ngôn ngữ đơn giản hơn, vui vẻ hơn. (Đây là cách của Feymann á).

    Cuối cùng thì, nhiều khi việc học được xem là một thứ xa xỉ, chính bởi vì người học cũng có khi chẳng biết học để làm chi. Bởi con người sẽ bị bức bối nếu không làm gì, nên để xoa dịu sự bất an đó, mình học. Và sự học đó, có khi đến khi học xong thì cũng đã lỗi thời. Thế nên mình xem việc học như tập thể dục, cũng tốt mà ha.

    (Bài này bắt đầu viết từ tháng 2/2025 và viết xong nhân ngày quốc tế lao động 1/5/2025. Năm ngoái giờ này mình đang đi chơi biển, năm nay mình cũng đi chơi biển 😛 Là lao động dữ chưa?)

  • Học chậm #6: Học một chủ đề mới toanh như thế nào?

    TL, DR:

    • Giới thiệu 2 tool chính mình thường dùng để học các chủ đề mới được nhanh chóng: Taxonomy và Abductive reasoning
    • Bàn về động lực học và một số cách mình học

    Mình thường nhận được những câu cảm thán như vầy:

    1. “Sao em biết nhiều quá vậy?” (Underlying: Mà nhiều thứ trời ơi đất hỡi ghê :v)
    2. “Biết nhiều vậy để chi?” (Underlying: Rảnh quá hông có việc gì khác làm ha?)

    Mình cũng nghĩ nhiều về cái đó lắm, nên nay mình thử viết xuống để tự trả lời hai câu đó coi sao.

    Câu 1: Sao em biết nhiều quá vậy?

    Mình có 2 biệt danh mà người khác đặt cho, 1 là Giang Google, 2 là Giang Sherlock. (Còn tự đặt chắc mình chỉ tự đặt cái tên Gấu Xù, chứ nào dám tự ghép tên mình với 2 cái đại thụ như vậy).

    Giang Google là biệt danh ở nhóm đồng nghiệp làm đào tạo (Learning & Development – L&D). Ban đầu mình khá ngại với biệt danh này nhưng qua thời gian thì mình cảm thấy cái tên đó cũng hợp lý, vì những cái mình biết thì mình Google là chính 😛 Thành quả là gì? Mình biết khá nhiều thứ trời ơi đất hỡi, và mình cực vui khi tìm thấy sự liên kết giữa những thứ tưởng chừng chẳng liên quan gì đến nhau. Bạn lục trong WordPress mình sẽ thấy, ví dụ, Tarot & problem solving, thú bông và nghề săn bắn…

    Công cụ chính mà Giang Google dùng là Taxonomy – bảng phân loại, để cổ kết nối các ý tưởng mới trên cái cây phân loại có sẵn của cổ, giúp cổ bớt cảnh “râu ông nọ cắm cằm bà kia” 😉

    Biệt danh thứ hai, mới có gần đây thôi, là Giang Sherlock. Vì mình khoái cách mà Sherlock xây giả thuyết, rồi tìm dẫn chứng, rồi lại phản biện nó, rất là khoa học. Mình kể về việc mình áp dụng cách tương tự trong một cuộc phỏng vấn, và bác interviewer có vẻ khoái nó lắm =)) Cũng đúng ha, làm data, làm business analyst, thì cũng là đi thu thập thông tin, xây dựng giả thuyết để trả lời một câu hỏi, rồi tìm dẫn chứng để chấp thuận/phản đối giả thuyết. Bác interviewer (nay là functional manager của mình) đã mô tả mình vầy: “She is the kind of person who will shake every branch of the tree to find the answer”.

    Và cũng như Sherlock, công cụ chính mình dùng là Abductive Reasoning. Nó là tư duy quy nạp, nhưng có tính đến fuzzy logic. Nó không “chết cứng” trong các giả thiết, mà luôn cởi mở để thay đổi kết luận khi có dẫn chứng mới.

    Mình để một số link tham khảo ở đây:


    Câu hỏi thứ hai, “Biết nhiều vậy để chi?”.

    Thực ra, mình không biết. Đến tận bây giờ, những câu hỏi “em sẽ là ai trong 5-10 năm tới” vẫn luôn khiến mình băn khoăn mà. Chắc cảm giác băn khoăn đó lớn quá, nên mình vẫn đang học hoài để coi mình có thể là ai.

    Việc học, theo mình có hai yếu tố:

    1. Muốn học
    2. Kĩ năng học

    Mục số 1, nếu ai đó hỏi là sao mình có động lực học, trước thì mình chỉ có thể trả lời là mình tò mò, kiểu, tự nhiên nó vậy. Sau này mình phát hiện ra mình tự học nhiều qua sách vở vì khi còn nhỏ mình ít bạn, anh chị thì lớn, không có mấy dịp được trò chuyện với người, mà nhà mình lẫn nhà bác có sẵn mấy bộ bách khoa thư cho trẻ em nên mình đọc giải khuây, được khen là “có vẻ ham học”, lâu dần thì hình thành thói quen đọc văn bản dài, mà đọc nhiều thì có sẵn câu trả lời trong đầu cho mấy câu đố dạng trivia, được khen tiếp, lại đọc tiếp, tới một ngày không ai khen cũng đọc, cũng học =)) Gần đây mình hay đùa là nếu em có người chơi cùng, chắc em không đọc nhiều dữ vậy, mệt lắm.

    Mục số 2, về kĩ năng học, đặc biệt là học những thứ mới, thì vài kĩ năng mình hay áp dụng và thấy hiệu quả là vầy:

    1. Browse: áp dụng khi mình rảnh và có sẵn một cái kho (ví dụ, intranet, thư viện), mình cứ tìm theo tên người, theo phòng ban, xem thử nghiệp vụ của họ là gì, plan các năm qua, meeting minutes, etc. Kết quả của việc này là mình có một bức tranh đại khái về việc người ta làm, các outcome là gì…
    2. Search: áp dụng khi mình có ít thời gian và/hoặc có từ khóa. Mình sẽ bắt một từ khóa rồi mở rộng trường từ vựng, xây một cái Taxonomy. ví dụ: martech -> digital marketing -> marketing strategy, etc. Khi mình đã mở rộng được đến từ vựng đủ “bự” để coi là một chuyên ngành thì tìm đến các hiệp hội hoặc text book/ syllabus của trường đại học để hiểu về standard của ngành.
    3. Translate, Map & Modelling: Việc tiếp theo, là dịch ngôn ngữ của người ta thành ngôn ngữ của mình. Mình thường dùng vài model đơn giản, ví dụ: Quá khứ – Hiện tại – Tương lai; Input – Process – Output; Ý kiến – Data – Hành động; Bức tranh nhỏ – bức tranh lớn; Zoom in – Zoom out; … Mình có xu hướng dùng những ẩn dụ/ metaphor mà đa số người ta ít nhiều quen thuộc ví dụ như nấu ăn, dùng bản đồ, xây nhà…
    4. Validate với chuyên gia: sau khi có trong tay: vấn đề chính của ngành, quy trình, landscape…, mình sẽ tìm cách nói chuyện với một chuyên gia trong ngành gần nhất mà mình có thể tiếp cận để xem mình có thực sự hiểu đúng, và các trend gần nhất là gì.
    5. Làm: Tìm một dự án gì đó để làm, hoặc tổng hợp cái mình biết thành một bài viết. Tìm cách mô tả nó bằng ngôn ngữ đơn giản hơn, vui vẻ hơn. (Đây là cách của Feymann á).

    Cuối cùng thì, nhiều khi việc học được xem là một thứ xa xỉ, chính bởi vì người học cũng có khi chẳng biết học để làm chi. Bởi con người sẽ bị bức bối nếu không làm gì, nên để xoa dịu sự bất an đó, mình học. Và sự học đó, có khi đến khi học xong thì cũng đã lỗi thời. Thế nên mình xem việc học như tập thể dục, cũng tốt mà ha.

    (Bài này bắt đầu viết từ tháng 2/2025 và viết xong nhân ngày quốc tế lao động 1/5/2025. Năm ngoái giờ này mình đang đi chơi biển, năm nay mình cũng đi chơi biển 😛 Là lao động dữ chưa?)

  • Học chậm #5: Cò học v2.0

    10 năm đi làm thì có đến 5,5 năm mình mang chức danh Learning & Development Executive. Và trong chừng ấy thời gian, mình liên tục vật lộn với việc mô tả công việc của mình một cách chính xác cho những ai không làm trong lĩnh vực nhân sự. Với số đông, mình mô tả L&D trong công ty giống như phòng giáo vụ ở trường đại học; với những ai không quen với mô hình trường lớp, mình nói đơn giản rằng mình giống như trợ giảng. Nhưng dù là giáo vụ hay trợ giảng, hai từ này vẫn không bao quát hết những gì mình làm, vì mình làm mọi thứ để việc học diễn ra trong một tổ chức, chỉ là không đứng lớp mà thôi.

    Rồi đến một ngày đầu năm 2022, mình đọc một cuốn sách của World Bank có tên The Art of Knowledge Exchange, và bắt gặp cụm từ learning broker (mình tạm dịch là “cò học”, lấy cảm hứng từ “cò đất, cò nhà”). Một từ thôi, nhưng nó gom hết những việc mình làm trong suốt những năm lăn lộn với Learning & Development (L&D). Đó là một aha moment! Mình khoái quá, viết hẳn một bài trên Facebook, được nhiều anh chị em chung nghề thương mến bình luận “cảm ơn con cò”, bởi cái từ đó nó đúng quá đi! Và cái tư duy “cò học” đó đã đem đến cho mình biết bao niềm vui, và hình thành cho mình một cách sống ngay cả khi mình không còn mang chức danh L&D nữa. Phiên bản cò học version 1.0 từ 2022 đến nay đã 3 năm và cũng có nhiều cập nhật, nên hôm nay mình viết vài dòng ở đây để ghi lại những điểm mới ở phiên bản 2.0 này.

    1. Giả định về việc học

    Việc học với mình, dựa trên một niềm tin mang tính nền tảng:

    Mọi người, mọi thứ đều có thể trở thành phiên bản tốt hơn của chính họ.

    Giả định này nghe có vẻ hiển nhiên, nhưng nó kéo theo rất nhiều câu hỏi:

    • “Trở thành phiên bản tốt hơn” nghe thì hay, nhưng nếu không thay đổi thì sao? Nếu mình hài lòng với phiên bản hiện tại của chính mình, liệu còn cần học nữa không?
    • Khi ta đòi hỏi một phiên bản tốt hơn, có phải ta đang không hài lòng với hiện tại? Mà tốt hơn là sao, có khi nào nghĩ tốt hơn mà hóa ra tệ hơn không?
    • Và nếu thay đổi là cần thiết, vậy bao lâu thì nó mới xảy ra?

    Hai câu đầu là định tính, mình băn khoăn nhưng chỉ để trong lòng. Câu cuối có thể định lượng, nên nó cũng là một mối trăn trở mà nhiều người chia sẻ được. Mình có một câu chuyện nhỏ kể bạn nghe chơi:

    Mình từng làm một phân tích về tần suất sử dụng thư viện trong công ty. Một nghiên cứu nhỏ thôi, xuất phát từ tò mò nhiều hơn là từ một “điểm đau” thực sự (pain point). Nhưng mình vẫn ghi nhớ số liệu ấy trong đầu, bởi nó là một “điểm đau” thực sự. Hai năm sau, một thành viên Ban Giám đốc bất ngờ hỏi về nó. Mình có thể trả lời ngay lập tức, và khoảnh khắc đó, mình thấy thỏa mãn: “Mình đã sẵn sàng cho câu hỏi này từ lâu.” Nhưng đồng thời, cũng có chút hụt hẫng: “Tại sao phải mất tận 2 năm để có người đủ tầm ảnh hưởng quan tâm đến nó?

    Bạn nghĩ sao?

    Việc học và việc cải tiến luôn là một quá trình dài. Đôi khi (và nhiều khi), kết quả không đến ngay lập tức. Đôi khi (và nhiều khi), ta phải chờ rất lâu để những nỗ lực của mình được chú ý. Nhưng 5,5 năm làm L&D hình thành cho mình thói quen học tập như tập thể dục, dù không thấy lợi ích ngay lập tức, nhưng giúp mình duy trì sức bền để chuẩn bị cho những điều sắp đến

    (Xin thú thiệt là mình thích tập thể dục não, chứ thể dục tay chân mình vẫn là một con sâu lười :P)

    2. Chuyển nghề không phải đổi chức danh, mà là đổi vấn đề

    Tháng 3/2022, mình tìm ra một từ để mô tả công việc L&D, như một cách thật đẹp để đóng gói lại hành trình hơn nửa thập niên. Tháng 11/2022, mình chuyển sang một lĩnh vực mới, Data Analyst. Và tháng 3/2025, là Business Analyst.

    Nhưng mình không chuyển nghề vì muốn làm điều gì khác biệt hoàn toàn (như nhiều bạn và anh chị cảm thán khi mình nói mình chuyển nghề: “Em bỏ nghề L&D à/ Em bỏ HR à”). Mình chỉ muốn giải quyết vấn đề ở một cấp độ khác: những vấn đề lớn hơn, đa dạng hơn, và có nhiều cơ hội nghề nghiệp hơn.

    • Nếu trước đây mình phân tích nhu cầu học tập của nhân viên, thì bây giờ mình phân tích xu hướng vận hành và hiệu suất của tổ chức.
    • Nếu trước đây mình tạo động lực học tập, thì bây giờ mình tạo động lực ra quyết định dựa trên dữ liệu.
    • Nếu trước đây mình giúp một nhân viên hay một nhóm nhân viên học tốt hơn, thì bây giờ mình giúp một tổ chức học hỏi từ chính dữ liệu của họ.

    Cốt lõi vẫn vậy: trao quyền ra quyết định, giúp những người ra quyết định tự tin hơn, giúp quá trình ra quyết định rõ ràng hơn.

    3. Làm một người học trọn đời là làm gì?

    Có một thời gian, cụm từ lifelong learner được truyền thông tung hô mạnh mẽ, như một chiến lược để thích ứng với những thay đổi trên thị trường lao động. Là một người làm đào tạo, mình rất thích khái niệm này.

    Nhưng mình cũng nghĩ: Tại sao chỉ có “learner”? Liệu phong trào “tự lực” (self-help) có đang quá đề cao nỗ lực cá nhân mà bỏ qua yếu tố môi trường?

    Nghĩ nhiều nhưng vẫn phải hành động. Với tư cách một cá nhân, mình có thể làm gì?

    1. Hiểu mình:
      • Biết được mình có bao nhiêu nguồn lực, bao nhiêu mối ưu tiên.
      • Biết giới hạn của mình: Mỗi ngày chỉ có 24 giờ, mỗi người chỉ có một cơ thể. Deadline nào cũng có thể dời, trừ deadline thực sự (mình lặp lại câu này rất nhiều lần). Thế nên phải học cách nói không, đừng để bản thân kiệt sức.
    2. Sống trong hiện tại:
      • Nếu không thể dự đoán quá xa, ít nhất cũng nên biết hiện tại mình đang làm gì. Những tổ chức mình đang làm việc cùng cũng cần điều đó. Họ cần mô tả thế giới họ đang sống và việc họ đang làm được rõ ràng hơn, để tránh lặp lại những sai lầm hiển nhiên của quá khứ.
    3. Chuẩn bị cho tương lai
      • Vẫn phải vui với hiện tại, nhưng ngay lúc vui nhất cũng phải dành một chút lắng lo về tương lai. Quan sát liên tục, bởi môi trường luôn thay đổi.
      • Nếu không thể tạo ra cơ hội, mình vẫn phải chuẩn bị sẵn sàng để nắm bắt cơ hội khi nó đến. (Mình thích cuốn “Bí mật của may mắn” :D) Vì cả ngàn cơ hội lướt qua, nhưng ai đủ năng lực mới có thể nắm bắt.
      • Dư thừa có thể là lãng phí, mà cũng có thể là dự phòng. Xây cái kho cả trăm công cụ có vẻ lãng phí, nhưng lúc cần có thể lôi ra được một cái mà xài đã là tốt rồi, còn hơn không có gì trong tay. Và biết đâu cái này không hiệu quả, mình có sẵn cái khác mà lôi ra xài. (Đâu phải tự nhiên mình có 2 tay 2 chân, 2 quả thận, 2 lá phổi?)

    4. Chuyện của mình, bớt so với người

    • Nếu hôm nay mình mệt quá, nghỉ một chút cũng không sao.
    • Công thức thành công của người khác, chưa chắc đã áp lên mình được.
    • Nhiều khi để cố gắng sống qua ngày thôi thì một người nào đó đã phải vận toàn lực của họ rồi. Không phải ai cũng có đủ nguồn lực để lo cho tương lai, nên đừng trách ai vì họ không thể làm thế này, thế nọ. (Bạn có thể đọc thêm các bài phản biện về thí nghiệm kẹo Marshmallow).

    Mình hay tự an ủi rằng: “Ở quá khứ, mình đã ra những quyết định tốt nhất có thể tại thời điểm đó”. Vỗ vai mình một cái, tự khen mình, và bước tiếp.

    Lần chuyển ngành đầu tiên thật đáng sợ. Từ L&D sang DA, mình mất 3 năm. Từ L&D sang BA, mình mất 5 năm, nhưng lần này đỡ đáng sợ hơn một chút, vì mình có vẻ đã biết quy trình rồi 😛 và từ DA sang BA mình chỉ mất có 2.5 năm thôi.

    • Mình vẫn sợ mỗi lần phải học điều mới, nhưng không đông cứng nữa. Sợ thì vẫn sợ, học thì vẫn học thôi. Và trên con đường học tập đó có nhiều người đi cùng lắm.
    • Thay đổi thì tất nhiên sẽ có hoảng loạn. Nhưng rồi mình sẽ quen.
    • Bị tụt lại một chút cũng không sao, thế giới này đủ rộng để có chỗ cho tất cả.

    Và dù có bao nhiêu băn khoăn, bao nhiêu dâu bể, chúng mình rồi cũng sẽ sống sót thôi.

    Giang Nguyễn, 2025.03.13

  • Học chậm #4 Con người mà tôi đã không trở thành

    Năm 2025 đánh dấu 10 năm Giang bước chân vào thế giới công sở, nhanh như một cái chớp mắt. Đã tới cái lúc mà Giang bắt đầu được các bạn nhỏ nhắn hỏi về sự nghiệp, rằng em nên đi làm ở đâu, nhận việc nào, học cái gì. Giang không thể tự tin mà khuyên nhủ các bạn như anh họ Giang đã khuyên nhủ Giang ngày đó, bởi thế giới đang thay đổi quá nhanh và sự khác biệt giữa các thế hệ đang lớn hơn bao giờ hết, nên những kinh nghiệm của Giang hay của những người lớn có thể không còn phù hợp nữa. Nhưng nếu các bạn cần, thì đây là vài ghi chú của mình, hãy đọc và thật cẩn trọng kiểm chứng chúng nha.

    1. Luôn có khoảng cách giữa kì vọng và thực tế. Và chúng ta không thể quay ngược thời gian, những thứ bạn ra quyết định ĐÃ LÀ TỐT NHẤT VÀO LÚC ĐÓ với những thông tin mà bạn có thể tiếp cận được và khả năng phân tích, ra quyết định của bạn vào lúc đó. Cái ta có thể làm lúc này, là học cách ra quyết định tốt hơn, dựa vào mình và dựa vào người thông qua sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa dữ liệu và chuyên gia.
    2. Ta có thể không trở thành phiên bản mình mong muốn. Không có ước mơ, không biết mình muốn gì, tới chừng này tuổi vẫn không đạt được những thứ mình từng mơ. Mà ngừng lại chút xem, chúng ta sống trong đời thực chứ không phải trong mơ mà? Sự nghiệp đâu có nhất thiết phải trùng với ước mơ?
    3. Khi rời bỏ một công việc, một sự nghiệp đã xây dựng bao năm, không hẳn là bạn bắt đầu lại từ đầu. Những thứ bạn đã mang theo, đã gây dựng có thể trở thành tảng đá xây cầu hay chắn đường, còn tùy vào con đường bạn đi.
    4. Sẽ có những lúc mình không thích đi làm, y như ngày xưa mình không ưa đi học. Sẽ có những lúc phải cắn răng làm việc mình không thích để có tiền ăn. Ít nhất nhớ để dành một ít đảm bảo mình không đói bụng, thì mới có sức mà mơ.
    5. Hãy cẩn thận với những điều bạn mơ ước. Như đồ ăn, có những món ăn một chút thì ngon, ăn hàng ngày sẽ là một sự tra tấn.

    Trong mười năm làm người lớn, Giang đã không trở thành bác sĩ, vốn là ước mơ từ hồi 7 tuổi tới 15 tuổi. Giang không trở thành dịch giả/ biên tập viên như giấc mơ năm 21. Giang cũng không trở thành team lead như đã thỏ thẻ với sếp năm 22 tuổi.

    Vậy, Giang đã trở thành ai?

    Qua mười năm, Giang từ một người 22 tuổi thành một người 32 tuổi. Giang cười nhiều hơn, kemeno nhiều hơn, ở trong một ngôi nhà không còn sợ tốc mái mỗi khi gió lớn, đọc nhiều sách hay, gặp nhiều người thú vị, và vẫn băn khoăn về chuyện ngày mai ăn gì.

    Giang đã trả nợ xong cho gia đình, chuyển việc 2 lần, có bạn chung nhà, dịch bài 10 năm cho phantichkinhte123.com, góp bài vào 2 quyển sách đã xuất bản, biên tập 1 quyển, 1 quyển dịch sắp in, học về tâm lý, học về lịch sử, quay lại học tiếng Đức và tiếng Pháp. Và điều quan trọng nhất đến lúc này, là chấp nhận bản thân là một người bình thường, xem điều đó như một đặc ân thay vì một lời nguyền. Cảm ơn bản thân tuổi 22 đã không bỏ cuộc, cảm ơn đã chuẩn bị thật tốt cho mình ở 10 năm sau.

    Năm 2025 này, lại tiếp tục tận hưởng mỗi ngày qua nhé, Giang ơi.

    Giang Nguyễn

    2/2/2025

  • Học chậm #4 Con người mà tôi đã không trở thành

    Năm 2025 đánh dấu 10 năm Giang bước chân vào thế giới công sở, nhanh như một cái chớp mắt. Đã tới cái lúc mà Giang bắt đầu được các bạn nhỏ nhắn hỏi về sự nghiệp, rằng em nên đi làm ở đâu, nhận việc nào, học cái gì. Giang không thể tự tin mà khuyên nhủ các bạn như anh họ Giang đã khuyên nhủ Giang ngày đó, bởi thế giới đang thay đổi quá nhanh và sự khác biệt giữa các thế hệ đang lớn hơn bao giờ hết, nên những kinh nghiệm của Giang hay của những người lớn có thể không còn phù hợp nữa. Nhưng nếu các bạn cần, thì đây là vài ghi chú của mình, hãy đọc và thật cẩn trọng kiểm chứng chúng nha.

    1. Luôn có khoảng cách giữa kì vọng và thực tế. Và chúng ta không thể quay ngược thời gian, những thứ bạn ra quyết định ĐÃ LÀ TỐT NHẤT VÀO LÚC ĐÓ với những thông tin mà bạn có thể tiếp cận được và khả năng phân tích, ra quyết định của bạn vào lúc đó. Cái ta có thể làm lúc này, là học cách ra quyết định tốt hơn, dựa vào mình và dựa vào người thông qua sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa dữ liệu và chuyên gia.
    2. Ta có thể không trở thành phiên bản mình mong muốn. Không có ước mơ, không biết mình muốn gì, tới chừng này tuổi vẫn không đạt được những thứ mình từng mơ. Mà ngừng lại chút xem, chúng ta sống trong đời thực chứ không phải trong mơ mà? Sự nghiệp đâu có nhất thiết phải trùng với ước mơ?
    3. Khi rời bỏ một công việc, một sự nghiệp đã xây dựng bao năm, không hẳn là bạn bắt đầu lại từ đầu. Những thứ bạn đã mang theo, đã gây dựng có thể trở thành tảng đá xây cầu hay chắn đường, còn tùy vào con đường bạn đi.
    4. Sẽ có những lúc mình không thích đi làm, y như ngày xưa mình không ưa đi học. Sẽ có những lúc phải cắn răng làm việc mình không thích để có tiền ăn. Ít nhất nhớ để dành một ít đảm bảo mình không đói bụng, thì mới có sức mà mơ.
    5. Hãy cẩn thận với những điều bạn mơ ước. Như đồ ăn, có những món ăn một chút thì ngon, ăn hàng ngày sẽ là một sự tra tấn.

    Trong mười năm làm người lớn, Giang đã không trở thành bác sĩ, vốn là ước mơ từ hồi 7 tuổi tới 15 tuổi. Giang không trở thành dịch giả/ biên tập viên như giấc mơ năm 21. Giang cũng không trở thành team lead như đã thỏ thẻ với sếp năm 22 tuổi.

    Vậy, Giang đã trở thành ai?

    Qua mười năm, Giang từ một người 22 tuổi thành một người 32 tuổi. Giang cười nhiều hơn, kemeno nhiều hơn, ở trong một ngôi nhà không còn sợ tốc mái mỗi khi gió lớn, đọc nhiều sách hay, gặp nhiều người thú vị, và vẫn băn khoăn về chuyện ngày mai ăn gì.

    Giang đã trả nợ xong cho gia đình, chuyển việc 2 lần, có bạn chung nhà, dịch bài 10 năm cho phantichkinhte123.com, góp bài vào 2 quyển sách đã xuất bản, biên tập 1 quyển, 1 quyển dịch sắp in, học về tâm lý, học về lịch sử, quay lại học tiếng Đức và tiếng Pháp. Và điều quan trọng nhất đến lúc này, là chấp nhận bản thân là một người bình thường, xem điều đó như một đặc ân thay vì một lời nguyền. Cảm ơn bản thân tuổi 22 đã không bỏ cuộc, cảm ơn đã chuẩn bị thật tốt cho mình ở 10 năm sau.

    Năm 2025 này, lại tiếp tục tận hưởng mỗi ngày qua nhé, Giang ơi.

    Giang Nguyễn

    2/2/2025

  • Học chậm #3 Scope creep

    Những lúc stress, mình hay đi dọn nhà. Bạn chung nhà mình thì ngược lại, thường trì hoãn việc dọn nhà. Nó đến từ hai cảm giác khác nhau:

    1. Dọn dẹp cho mình cảm giác làm chủ. Mỗi khi “bế tắc” nghĩ không thông, việc đặt để một cái gì đó vào đúng chỗ khiến mình lấy lại được một chút quyền kiểm soát cuộc đời mình, và từ đó có động lực để giải quyết những chuyện lớn hơn. Đây là mẹo để mình có được “quick win”, hay “hòn tuyết lăn”.
    2. Ngược lại, bạn nhà mình lại dễ căng thẳng vì không biết dọn dẹp có quy mô như thế nào. Với bạn, cần phải giới hạn phạm vi thật rõ: chén đĩa trên bàn ăn cần cất hết sau khi ăn, quần áo trong giỏ cần bỏ hết vào máy giặt… Bạn sẽ không dành thời gian để đi khắp nhà nhặt chén hay nhặt quần áo lẻ tẻ rải rác, vì nó không nằm trong “scope”. Không phải là lười biếng, chỉ là, nó nằm quá khả năng kiểm soát của bạn. Trong lúc đọc về BA mình học được từ “Scope creep” /skəʊp kriːp/ (danh từ), hay được nói vui là cơn ác mộng “ủa em”, việc liên tục thay đổi mục tiêu và yêu cầu dự án, dẫn đến việc những thứ đã làm đổ sông đổ bể phải làm lại.

    Để đối mặt với scope creep thì không có cách nào khác hơn là phải định nghĩa scope của dự án. Theo Business Analysis Methodology Book, các loại dự án trong công ty có thể chia làm 3 loại, ứng với các loại business requirement như sau:

    Loại tài liệuÁp dụng cho loại dự ánNội dung chínhĐặc điểm nổi bật
    Business-Case DocumentLoại A (dự án lớn, tác động cấp doanh nghiệp)– Business Requirements: Lý do sản phẩm mới cần thiết
    – Scope: Định nghĩa và ưu tiên các tính năng sản phẩm
    – Context: Phân tích tích hợp với các hệ thống/sản phẩm khác
    – Cost vs. Benefit Analysis: Phân tích khả thi dựa trên phạm vi xác định
    – Risks: Nhận diện và giảm thiểu rủi ro
    Yêu cầu chi tiết và phân tích sâu để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của sản phẩm.
    Vision and Scope DocumentLoại B (dự án vừa và nhỏ)– Mô tả tính năng sản phẩm trong mỗi phiên bản
    – Cung cấp thông tin tích hợp cấp cao với các sản phẩm/hệ thống khác
    Tập trung vào sản phẩm đề xuất với sự tích hợp tổng quan, phù hợp với quy mô trung bình và nhỏ.
    SOW (Statement of Work)Loại C (cải tiến hoặc sửa đổi sản phẩm có sẵn)– Mô tả nhu cầu kinh doanh trong 1 trang giấyTối giản tài liệu, phù hợp cho các yêu cầu nhỏ, thời gian thực hiện dưới 1 tháng.

    Những thứ mình học/đọc/xem trong tuần và thấy đáng suy nghĩ thêm:

    1. 2 quyển sách cũ (năm 2020) về nghề Digital marketing và Influencer:
      • 3R của KOL: Reach, Relevant, Reasonate
      • 3 yếu tố của influencer thành công: có màu riêng, có câu chuyện để khai thác, nhất quán
      • cái gì viral: đẹp, vui, rực rỡ, mới (ủa rồi sự buồn bã và u ám thì sao?)
      • Xử lý khủng hoảng truyền thông: Né tâm bão, suy nghĩ kĩ và lên tiếng một lần duy nhất, chân thành + thẳng thắn + mạnh mẽ
      • Câu hỏi phỏng vấn: “are you serious with…”: bạn nghiêm túc với thứ gì đó đến mức nào, thể hiện qua việc bạn sống với nghề, cập nhật xu hướng mới, tiếp xúc với người làm nghề…
    2. On writing well: Sau nhiều năm viết bản năng, mình đang học lại cách viết. Đây là những quyển mình đang đọc:
      • Thuật viết văn (Nguyễn Văn Hầu)
      • Viết tin bài đăng báo (Ngọc Trân)
      • Khám phá nghề biên tập (Ngọc Trân)

    Và thế là, cũng hơi nhiều cho một tuần rồi nhỉ.

    2025.01.20

  • Học chậm #1

    Tóm tắt: Agile, Scrum, software, dystopia, working mom, language learning

    1. Agile & Scrum?

    Hỏi: Agile và Scrum giải quyết vấn đề gì?

    Đáp: Agile ra đời để tăng tính linh hoạt trong phát triển phần mềm, giúp phản hồi nhanh với thay đổi và cung cấp giá trị sớm hơn so với Waterfall. Scrum cụ thể hóa Agile bằng cách tổ chức công việc theo các chu kỳ ngắn (Sprint), tạo sự minh bạch và cải thiện hợp tác nhóm. Cả hai đều giúp giảm rủi ro và tối ưu hóa kết quả trong môi trường không ngừng thay đổi.

    Từ vựng mở rộng:

    • Software Development Life Cycle:
      • Khái niệm SDLC hình thành vào thập niên 1960-70 nhằm giải quyết sự phức tạp ngày càng tăng trong phát triển phần mềm, đặc biệt sau khủng hoảng phần mềm. Nó cung cấp một khung lý thuyết với các giai đoạn rõ ràng như yêu cầu, thiết kế, phát triển và bảo trì để đảm bảo chất lượng và quản lý chi phí. Mô hình Waterfall là một trong những cách triển khai đầu tiên của SDLC.
    • Waterfall (được Winston W. Royce trình bày năm 1970) là một trong những mô hình SDLC đầu tiên, nhấn mạnh quy trình phát triển theo từng bước rõ ràng.
    • Software crisis (1960s)
      • Thuật ngữ này được đặt ra vào cuối thập niên 1960, khi các dự án phần mềm liên tục thất bại do không đáp ứng được tiến độ, ngân sách hoặc chất lượng mong đợi.
      • Trước 1960, phần mềm tồn tại nhưng không được xem là một sản phẩm có “vòng đời” cần quản lý chặt chẽ. Phần mềm lúc đó chủ yếu phục vụ mục đích cụ thể, nhỏ lẻ, và không có sự phân biệt rõ ràng giữa phát triển, thử nghiệm, và bảo trì. Chính sự gia tăng về quy mô và chi phí của phần mềm vào thập niên 1960-70 đã dẫn đến nhu cầu quản lý vòng đời phát triển phần mềm, đặt nền móng cho SDLC và các phương pháp phát triển hiện đại như Agile và Scrum.

    Nguồn ảnh: https://www.geeksforgeeks.org/software-engineering-software-crisis/

    PMBOK Handy Guide: https://www.eyapro.com/project-management/pmbok-7th-handy-guide

    2. Career and Family

    Tuần này Giang đã dịch xong chương 1 của cuốn Career and Family. Thú vị nhưng hơi nặng nề. Giang sẽ trích dẫn vào tuần sau nhe.

    3. Danh sách từ vựng “đầu tiên” khi học bất kì một ngôn ngữ mới?

    Gần đây Giang đang quay lại việc học ngoại ngữ (tiếng Nhật và tiếng Đức). Câu hỏi Giang đặt ra là, liệu có chăng một danh sách các từ thông dụng phổ biến ở hầu hết các ngôn ngữ, để người học có thể bắt đầu? Sau đây là các danh sách mà Giang tìm được:

    • First 625 Words (Gabriel Wyner): 625 từ, tập trung vào những từ cụ thể, dễ hình dung, phù hợp cho người mới bắt đầu, có 2 phiên bản xếp theo alphabet hoặc theo chủ đề; nhưng thiếu cơ sở khoa học, không phản ánh tần suất sử dụng thực tế.
    • Swadesh List: gồm 100 hoặc 207 từ, phù hợp để so sánh ngôn ngữ học lịch sử, nhưng không thực tế cho giao tiếp hàng ngày.
    • New General Service List (NGSL): 2818 từ hiện đại trong tiếng Anh
    • Academic Word List (AWL): 570 word families, tập trung vào ngữ cảnh học thuật, không phù hợp để giao tiếp cơ bản.
    • COCA Frequency List: Phản ánh ngôn ngữ hiện đại, dựa trên corpus lớn, và (vẫn) chỉ áp dụng cho tiếng Anh Mỹ.

    Với nhu cầu của bản thân, Giang sẽ bắt đầu với First 625 words để có cảm hứng, đọc hiểu được một số meme và truyện tranh, kế đó Giang sẽ chuyển qua NGSL để giao tiếp cơ bản, và sau đó là AWL để có thể đọc sách non-fiction và xem phim tài liệu. Nhân đây Giang cũng mới kiếm ra cái tool này thể hiện mối liên hệ giữa các từ như một cái map, mời bạn coi chơi: https://wordmapdictionary.com/

    Tuần này Giang đã coi và đọc:

    Phim:

    1. When the phone rings: 4.5 sao, chủ đề tưởng tổng tài 3 xu mất não nhưng mà càng coi càng thấy biên kịch làm tốt phần xây dựng nhân vật và truyền tải nhiều thông điệp hữu ích
    2. Upstream: 5 sao, vừa coi vừa rớt nước mắt, chủ đề nặng nề và thực tế

    Sách (chưa đọc xong cuốn nào hết trơn…)

    1. Từ xác định đến bất định
    2. Lịch sử vú
    3. Lịch sử vợ
    4. Về bản tính người

    Sách chờ đọc:

    1. Big Fat Notebook: Computer Science and Coding
    2. Origami Việt Nam chuyện của giấy: mua vì nhớ ông anh Hai của mình quá xá https://origami.vn/

    Một tuần mới lại đến. Chúc tụi mình nhiều nhiều sức khỏe nha

    Giang Nguyen, 2025.01.05

  • “Học chậm” #0

    Năm 2025 là một năm đặc biệt với mình:

    • Đánh dấu 10 năm mình bước chân vào thế giới đi làm.
    • Một năm chính phương – vuông vắn, mà cũng đầy những góc cạnh chưa biết trước.
    • Và mình thì ngày càng có nhiều thứ muốn tám.

    Vậy nên hôm nay, mình khai trương series “Học Chậm”, lấy cảm hứng từ “Đọc Chậm” của bác Hồ Quốc Tuấn.

    Mình đã có một Substack nơi mình chia sẻ chuyện làm nghề “nghiêm túc”, một Facebook nơi mình thoải mái tám xàm, vui vẻ, và một trang WordPress này với đầy những thứ mơ hồ và lộn xộn. Năm nay, mình muốn mang phần “mơ hồ” và “thay đổi” ra ánh sáng, để chia sẻ với thế giới. Những điều ấy thể hiện trong những thứ mình học, những gì mình tò mò, và cả những dự án nhỏ xíu mình đang ấp ủ.

    Có thể ở đây, bạn sẽ không tìm thấy những con đường tắt, hay câu trả lời dễ dàng. Thay vào đó, mình ở đây để kể về những loay hoay, những lần thử rồi sai, những tiếng cười (và có thể cả những tiếng thở dài). Và mình hy vọng, những câu chuyện ấy sẽ là tiếng gọi nhỏ nhoi, chạm đến ai đó đồng điệu.

    Chào bạn, đây là phiên bản “chậm chạp” của Giang. Chúng ta cùng bắt đầu nhé.

    Giang Nguyễn, 5.1.2025

  • Giang’s Curation List W16: Profit First, và Global Citizen

    1. Profit First – một góc nhìn mới về thứ tự phân bổ dòng tiền
      Bạn Giang được anh mentor giới thiệu cuốn này từ 2020, nhưng mãi đến lúc này mới có dịp dùng đến. Cuốn này có thể được xếp vào tuyển tập sách vả mặt 😉
      Về cơ bản, ai cũng biết Doanh thu – Chi phí = Lợi nhuận, nhưng tác giả đảo ngược công thức thành Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí. Điều này có nghĩa là gì?
      Đầu tiên, business phải có lợi nhuận, nếu không thì làm từ thiện cho rồi. Thế nên thay vì trả hết các hóa đơn trước, thì phải bỏ vào Lợi nhuận trước, dù là nhỏ (1% – như tác giả gợi ý).
      Thứ hai, chủ doanh nghiệp là nhân viên quan trọng nhất. Thế nên, cũng phải tự chi trả cho chính mình, đừng có nhập nhằng excuse các kiểu, kẻo rơi vào trạng thái lóc thịt mình nuôi con mình.
      Thứ ba, nếu làm theo phương pháp này, chúng ta sẽ có một cảm giác khác về số tiền thật sự được đụng vào để vận hành doanh nghiệp. Không nhiều như ta nghĩ!
      Lần theo câu chuyện của tác giả, Giang có thể đoán là phương pháp Profit First này bắt nguồn từ phương pháp phong bì được mẹ tác giả (thế hệ Lost Generation), được cập nhật thành phương pháp phân chia tài khoản ngân hàng để phù hợp với tình hình hiện nay, và mở rộng phạm vi áp dụng thành doanh nghiệp.
    2. Global Citizen – thế nào là công dân toàn cầu?
      Tuần rồi Giang được một người nước ngoài hỏi rằng mình quan tâm tới chuyện gì, với tư cách là một người trẻ. Mình suy nghĩ, và nói mình nghĩ tới vấn đề danh tính.
      Giang là một đứa trẻ đã bị tách rời khỏi làng quê. Ba mẹ mình di cư từ miền Trung vào Tây Nguyên 40 năm trước, mình tiếp tục từ phố núi xuống Sài Gòn học tập và làm việc đến nay đã 12 năm, trong môi trường công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Mình thường cảm thấy bối rối với câu hỏi “Where are you from?”. Mình nên trả lời là mình đến từ đâu, để không mâu thuẫn với cái mình cảm nhận về bản thân?
      Giang đã trả lời, mình có một danh tính thập cẩm. Mình nghĩ về bản thân với tư cách một người Việt Nam, hơn là một vùng miền cụ thể. Câu chuyện dẫn đến “global citizen”, và mình kể về hai người bạn. Người thứ nhất đi vài chục quốc gia, nói một chục thứ tiếng, đang làm việc ở Mỹ. Người thứ hai, cô ấy nói rằng cô ấy sinh ra đã là global citizen. Mình thích cả hai cách tiếp cận, cách thứ nhất, global citizen is something we must achieve cho mình một mục tiêu, cách thứ hai, global citizen at birth cho mình sự tự tin. Khi gánh nặng áo cơm đã bớt, mình không phải nghĩ ngày mai sẽ ăn gì (à thực ra vẫn có, chỉ là bớt phải nghĩ ăn gì với chừng nào tiền thôi), mình quan sát thấy người ta sẽ quan tâm tới những câu hỏi như mình là ai, mình ở đây làm gì, mình có thể đi đến đâu. Trà Giang của một chục năm trước đã cảm thấy mình thật nghèo nàn và lúng túng giữa biển người thú vị và tài giỏi, nhưng với những gì mình đã tìm hiểu và khám về chính mình, về gia đình, Sài Gòn, Việt Nam, mình cảm thấy đủ giàu có và tự tin để bước tiếp tới thái cực bên kia của “Global citizen”.

    20240416

    Giang Nguyễn