Category: learning

  • Giang’s curation list W1-2024

    Bắt chước bác Hồ Quốc Tuấn, mình tự tổng hợp một danh sách những thứ hay ho mà mình tiếp cận được trong tuần rồi. Đang yên đang lành tự nhiên tết, làm mình bay vèo mất 2 tuần :))

    1. Báo cáo lương của ITviec

    Nguồn: https://itviec.com/blog/itviec-it-salary-report-2023-2024-press-release/?itm_campaign=featuredpost&itm_medium=footer&itm_source=itviec.com
    Báo cáo năm nay thu thập dữ liệu từ 2207 anh chị em làm nghề IT ở 25 vị trí; rất cẩn thận định nghĩa phân biệt rõ trung bình, trung vị, percentage, hi vọng các anh chị em mần báo đừng nhầm trung bình với trung vị như nhiều năm trước. Theo báo cáo này:

    Chỗ nào trả lương cao?

    • Về quốc tịch của công ty chủ quản: nên tập trung Úc, New Zealand; châu Âu, Mỹ, Canada cũng khá ổn; còn Việt Nam và Nhật thì nên dè chừng chút vì lương không khá lắm.
    • Về domain: Dược phẩm, ngân hàng, dịch vụ tài chính (Tất cả location), ở Hà Nội có thể nghía thêm về Kế toán kiểm toán, Luật, Tư vấn doanh nghiệp, Dịch vụ chuyên nghiệp, ở Đà Nẵng có thể nghía thêm Game.

    Chỗ nào layoff? Ai có khả năng cao bị layoff?

    Công ty product Việt Nam. Domain: Dịch vụ web, sản phẩm phần mềm, thương mại điện tử.

    Và nếu bạn có 1-2 năm kinh nghiệp hay đang trong giai đoạn 5-8 năm kinh nghiệm (mid to sen or sen to lead???) thì cũng có khả năng cao.

    Dân IT nghĩ gì về công việc của mình?

    Căng thẳng. Dễ bị tụt hậu. Hạn chế về tiếng Anh giao tiếp. Giao tiếp là trọng tâm để thăng tiến.

    Đó là lý do mình hay nói mấy đứa em là lo học tiếng Anh (giao tiếp) cho tốt, tự lo cho sức khỏe tinh thần, và tập thể dục.

    Coder nghĩ gì về GenAI?

    Rất tích cực! Giúp gia tăng hiệu suất lên rất cao.

    2. Về nghề HR của mình

    AI sẽ thay đổi vai trò của HR như thế nào? by David Greene
    https://www.linkedin.com/pulse/how-ai-transform-role-hr-david-green–gqgee%3FtrackingId=Oi56dOMAO0VUKKaw7ajSwA%253D%253D/?trackingId=Oi56dOMAO0VUKKaw7ajSwA%3D%3D

      3. Giới thiệu data project mình tâm đắc
      Tuần này mình muốn giới thiệu Dollar Street: https://www.gapminder.org/dollar-street
      Trăm nghe không bằng một thấy. Muốn biết đời sống giàu nghèo của người dân ở các nước trên thế giới ra sao, có thể vô đây, chi tiết tới từng ngóc ngách căn nhà, cái ca đánh răng, cái bồn rửa chén, bàn tay của người ở nơi đó, và cả ước mơ của họ.
      Xem để thấy chúng ta, với tư cách là Homo Spiens, thật ra không khác nhau như ta nghĩ; hoặc, ở gần nhau đó, mà thật xa cách.

      20240225

      Giang Nguyễn

    1. #3 Make it work first, then make it better

      Hôm qua, sau nhiều ngày trì hoãn, mình đã bắt đầu code những dòng đầu tiên.

      Xu hướng của mình là, trước khi bắt tay vào việc gì đó, mình sẽ đọc lý thuyết, documentation, xem giới thiệu, đi học… rồi mới làm. Nói chung là tập vùng vẫy trên cạn chán chê rồi mới xuống nước tập bơi đó. Nhưng cái nào thì nó work chứ học code nó không work với mình theo cách này. Mình sợ, nên mình cứ trì hoãn mãi.

      Cho đến một hôm, mình đi học vẽ. Vẽ trên máy, khó lắm. Mình chẳng quen dùng layer, chọn màu, chọn cọ, nét thanh nét đậm… Cô giáo thì liên tục sửa trục, sửa khối, mình càng quíu. Bài vẽ toàn nét phác khối mà chẳng vẽ thêm được chi tiết. Bài tập cứ nợ hoài, hoặc làm chẳng xong. Xong mình nghĩ, có vẻ không ổn rồi. Vẽ để cho vui mà đến cả việc vẽ xuống còn không làm được thì làm ăn gì?

      Mình ngồi xuống suy nghĩ. Để vẽ được thôi mà, có cần phải vẽ từ đầu trên máy không? Nếu vẽ trên giấy rồi đồ lại thì sao? Mình thấy anh họa sĩ mà mình biết còn làm vậy mà, ảnh có hẳn một quyển vở ô li rất bình thường chỉ để vẽ phác nội dung truyện.

      Thế nên, mình quyết định vẽ chì, rồi chụp ảnh scan lại.

      Nó work! Ít nhất thì có một bài tập đã xong và mình thấy cũng khá cưng!

      Mình bớt sợ hơn, bắt đầu làm tới, chỗ nào không kịp về thao tác là pause lại hỏi cô liền. Cô ơi sao em copy paste không được, cô ơi cô dùng cọ gì ấy, cô ơi và cô ơi…

      Hồi nhỏ mình là bé ngoan, đi học không bao giờ nói leo, hỏi cô mấy câu cắc cớ. Hên là hồi đó không khó lắm nên vẫn học được. Nhưng mà giờ thì mình xác định mình là học trò cá biệt rồi, hỏi tới chứ! Bỏ tiền đi học mà không biết không dám hỏi thì học làm gì.

      —

      Quay lại với chuyện học code.

      Sau khi trì hoãn chán chê, mình nghĩ thôi không ổn rồi. Cách tiếp cận từ lý thuyết, syntax này mình chả có hứng gì hết.

      Mình đăng kí làm freelancer cho chỗ học cũ, phải làm một cái sample. Mình nghĩ mình không được chọn đâu, vì ngoài cái kiến thức nền ra mình chẳng có gì hết. Nhưng mình cứ đăng kí, và làm. Mình cần động lực để làm, có vậy thôi à.

      Mình cũng không chọn tool học hồi đó, mình chơi hẳn Python và thư viện Pandas. Dashboard thì thay vì dùng Power BI, mình vọc trên Google Data Studio. Visualize Data thì mình dùng seaborn với matplotlib.

      Cũng không phải là tự làm đâu, mình chọn một tập dữ liệu khá nổi tiếng và quen thuộc, mở Kaggle và Github lên tìm những bài phân tích của người ta, đọc và copy code vào VS Code, chạy thử. Mình mô tả ý tưởng của họ, và ghi lại những điều cần học, ví dụ:

      • Vẽ nhiều chart một lúc thì làm như thế nào?
      • Các cách manipulate dataset

      Cho đến hôm qua mình đã biết:

      • import các thư viện phổ biến
      • làm phân tích mô tả (EDA): size, datatype…
      • vẽ được chart boxplot cho tầm 10 biến một lúc

      Nghe thì thiệt là đơn giản, nhưng mà mình đã cố gắng lắm đó.

      Trái bóng đã lăn rồi, giờ mình lăn tiếp đây. Hôm nay mình sẽ học vẽ các loại chart khác 😀

      Câu chuyện về sự trì hoãn của mình tạm dừng ở đây nhen.

      20220823

    2. 20220702 Tản mạn về thú bông (Stuffed animals/Plushies)

      Chiếc xe buýt 146 lướt qua, khiến mình không thể rời mắt và trầm trồ vì trên xe treo quá trời thú bông. Thật dễ thương! Nhưng, dừng lại chút coi, tại sao thú bông lại dễ thương? Thú bông được phổ biến từ khi nào? Nếu bỗng dưng có tiền, mình có hứng mở tiệm bán thú bông, thì mình sẽ kể chuyện gì cho khách nghe?

      Trước khi bàn chuyện, mình thống nhất cách hiểu về “thú bông” chút ha. Theo mình, có ít nhất hai cách hiểu chữ “thú bông”. Thứ nhất, thú bông là một món đồ chơi có hình người (còn gọi là búp bê bông), thú, hoặc đồ vật; làm bằng vải, bên trong nhồi bông, vải vụn, rơm, hoặc các loại hạt (hạt nhựa, hạt đậu…). Thứ hai, thú bông có thể đề cập đến loại tiêu bản nhồi (taxidermy), mà bạn có thể thấy trong thảo cầm viên. Ngoài ra thì “thú bông” còn có thể liên tưởng đến “hình nhân” dùng trong bùa chú, cái này thì mình sẽ tìm hiểu và viết trong một bài khác.

      Trong bài viết này, mình sẽ chỉ giới hạn trong cách hiểu thứ nhất: một món đồ chơi bằng vải, mềm mại, kích cỡ vừa cầm trong bàn tay, hoặc cùng lắm là bằng một người lớn.

      Lược sử về thú bông

      Theo Britainica, thú bông được ghi nhận là đồ chơi cho trẻ em từ xa xưa, có thể bắt nguồn từ những con búp bê hay con thú bằng giẻ hoặc rơm, gỗ, kim loại. Như các loại đồ chơi khác, thú bông thường được tự làm tại nhà, bằng cách khâu ghép các mảnh vải hoặc móc (amigurumi). Tuy nhiên, thú bông chỉ trở nên phổ biến từ cuối thế kỉ 19, khi gấu teddy được sáng tạo gần như đồng thời bởi các nhà làm đồ chơi là Morris Michtom (Mỹ) và Richard Steiff và cô mình là Margarete Steiff (Đức).

      Morris Michton (1870-1937) và vợ là sáng tạo ra Teddy Bear theo một sự kiện liên quan đến tổng thống Rooselvelt (biệt danh của tổng thống là Teddy – mặc dù ổng hổng ưa cái biệt danh này). Chuyện là, tổng thống được mời tới một buổi đi săn vào tháng 11/1902 và từ chối bắn một chú gấu con. Chuyện này trở thành đề tài bàn tán xôn xao dư luận, Clifford Berryman vẽ lại trong bức ảnh này, đăng trên tờ Washington Post, ngày 16/11/1902.

      This political cartoon by Clifford Berryman's depicts President Theodore Roosevelt's bear hunting trip to Mississippi. The cartoon gave the 'Teddy' Bear it's name. It was published in the Washington Post in 1902. Download from Wikipedia.

      This political cartoon by Clifford Berryman’s depicts President Theodore Roosevelt’s bear hunting trip to Mississippi. The cartoon gave the ‘Teddy’ Bear it’s name. It was published in the Washington Post in 1902. Download from Wikipedia.

      Michton đã làm một chú gấu nhồi bông đặt trong cửa hàng kẹo của mình ở Brooklyn, với tấm biển “Teddy’s bear” và đồng thời gửi một phiên bản đến cho tổng thống để xin được sử dụng cái tên Teddy. Tổng thống đồng ý! (dễ thương phết). Năm 1903, hai vợ chồng thành lập Ideal Novelty and Toy Company. Công ty ăn nên làm ra, đến 1971 đã trở thành một trong ba công ty đồ chơi hàng đầu của Mỹ. Hiện công ty đã bị mua lại và đang thuộc về tập đoàn Mattel.

      Trong khi đó, tại Đức vào năm 1902, Richard Steiff (1877-1939) (cháu của Margaret Steiff (1847-1909), người sáng lập công ty Steiff) sáng tạo ra phiên bản “Bear 55 PB”, với vải là loại phủ lông dùng trong nội thất, phần tay và chân có thể chuyển động được. (Còn tại sao ổng tìm ra loại vải đó để may thú bông hả, ổng học School of Applied Arts ở Stuttgart với Anh đó). Chú gấu này được bán ở hội chợ Leipzig Toy Fair và bắt đầu chinh phục thế giới. Một thương nhân người Mỹ đặt một đơn hàng “Steiff’s bear” lớn và đến 1906 thì “Steiff’s bear” được biết đến rộng rãi là “Teddy’s bear” (hơi nhập nhằng há!). Nhiều công ty đồ chơi khác cũng bắt đầu sản xuất gấu bông.

      Cũng phải nói thêm, Bear 55 PB không phải là “thú bông” đầu tiên được nhà Steiff sản xuất, mà là một chú voi do Margaret thiết kế, ban đầu được bán ra để làm gối cắm kim, nhưng nhanh chóng trở thành một món đồ chơi cho trẻ em (cũng phải ha, mình thường đâu biết khách hàng có sử dụng đúng mục đích ban đầu mà mình thiết kế hay không). Steiff Company vẫn hoạt động cho đến ngày nay, và thú bông nhà Steiff là một vật phẩm được các nhà sưu tầm thú bông săn đón. Gấu Teddy được mặc quần áo theo các ngành nghề khác nhau, làm vật trưng bày cho hội chợ, quà lưu niệm… Trong hai cuộc chiến tranh thế giới thì ngành công nghiệp sản xuất đồ chơi nói chung và thú bông nói riêng cũng chịu ảnh hưởng theo. Nhà Steiff trước việc thiếu nguyên liệu đã có lúc phải sản xuất “paper teddy bear” làm từ gỗ nội địa. Sau 1975, trước nhu cầu bùng nổ của thế hệ Baby Boomer, thú bông nhanh chóng trở lại.

      Các nhân vật trong sách, truyện, phim, phim hoạt hình… có phiên bản thú bông từ khi nào nhỉ? Mình thấy có hai dấu mốc đáng chú ý. Thứ nhất, vào năm 1903, thú bông tạo hình thỏ Peter Rabbit (nhân vật trong cuốn truyện cùng tên của nhà văn Beatrix Potter) là thú bông đầu tiên được cấp bằng sáng chế. Thứ hai, vào năm 1931, Steiff hợp tác với Disney để làm phiên bản thú bông cho các nhân vật của nhà Chuột, mối quan hệ hợp tác vẫn duy trì cho đến ngày nay.

      Chuyện bên phương Tây là vậy, còn phương Đông thì sao? Nhật Bản nổi tiếng với amigurumi – nghệ thuật móc thú bông, và những bạn thú bông theo phong cách “kawaii” (dễ thương). Thú bông ở Nhật cực kì đa dạng, bắt nguồn từ truyện tranh và phim hoạt hình. Ở Việt Nam hẳn đã quá quen thuộc với Hello Kitty, Rikklakuma, Sumikko Gurashi, Pokemon, Doraemon… Không có tài liệu chính xác nhưng một số tài liệu mình đọc được trên mạng ghi nhận thú bông phong cách kawaii phổ biến từ những năm 1990.

      Hàn Quốc, theo mình quan sát thì có vẻ không có hệ thống nhân vật thú bông đa dạng như Nhật Bản. Các nhóm nhạc, các thần tượng cũng có phiên bản nhồi bông. Một số bộ phim như “Hoàng Cung” (2006) góp phần làm cho “gấu bông” nóng trở lại trong nhóm các bạn tuổi teen. Chú bò chăm chỉ trong “Thư ký Kim làm sao thế” (2018) cũng trở thành vật phẩm được săn đón một thời gian.

      Ở Việt Nam, rất tiếc mình không tìm thấy nhân vật thú bông nào đáng kể, mặc dù gần như con đường nào cũng có cửa hàng bán thú bông, từ những sạp hàng trên vỉa hè, trong nhà sách, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, đến những cửa hàng chuyên bán thú bông sang trọng. Thú bông ở Việt Nam, ngoài những nhân vật nổi tiếng như đã kể trên, đa phần là những nhân vật không tên. Mình nghe một người anh nói rằng trước 1975 từng có một công ty ở Sài Gòn làm búp bê bông rất đẹp, chuyên xuất khẩu, nhưng giờ không còn nữa. Nhóm 9X tụi mình quen với những chú gấu nhồi vải vụn, ghép cũng từ vải vụn, những chú sâu gắn mắt nhựa, sọc vàng xanh, vàng đỏ làm gối ôm, sau này xuất hiện thêm cá sấu, bé ciu, ly trà sữa… Thú bông khi mình còn nhỏ là một món đồ xa xỉ mà chỉ có con nhà giàu mới có được, và mình vẫn còn nhớ mình từng nhìn tủ thú bông đầy ắp ở nhà cô bạn cùng lớp đầy thèm khát. Mình nhìn thấy sự khao khát đó trong những chuyến đi từ thiện sau này, người chị dẫn mình đi cũng rất tâm lý, trong giỏ quà của chị gần như lúc nào cũng có thú bông để tặng các em nhỏ.

      Thú bông trong đời sống và trong trị liệu

      Nếu nói đến quà tặng cho em bé? Thú bông xếp đầu bảng, bên cạnh ô tô, bộ lắp ghép, búp bê. Nếu nói đến quà lưu niệm khi đến một quốc gia, hay hội nghị? Thú bông cũng là lựa chọn phổ biến, bên cạnh postcard, đặc sản…

      Thú bông, một món đồ chơi mềm mại, đáng yêu, gần gũi với chúng ta từ thuở ấu thơ. Thú bông giúp an ủi, giảm lo âu, căng thẳng, được các chuyên gia tâm lý khuyến khích sử dụng trong những ca khủng hoảng lo âu, xa cách, hay các vấn đề liên quan đến lòng tự tôn.

      Với chừng đó công dụng, và với sự phổ biến như bây giờ, mình nghĩ ngành công nghiệp đồ chơi và thú bông có lẽ còn sống được lâu lâu. Mình cũng có nhiều thú bông, và khó mà kiềm chế cái sự thèm thuồng khi đi qua Miniso :))

      Bảo tàng thú bông

      Dưới đây là danh sách một số bảo tàng thú bông, để bạn có thể ghé thăm nếu có dịp

      (Wiki có đề cập thêm vài chỗ https://en.wikipedia.org/wiki/Teddy_bear_museum)

      Tạm kết

      Tóm lại thì, từ một chuyến xe buýt chở đầy thú bông ở Gò Vấp, mình đã đi qua Mẽo, qua Đức, qua Nhựt, rồi trở lại Việt Nam. Tạm hài lòng chút đỉnh với những gì mình tìm được, và quay lại ôm gấu nhà thôi :))

      Trà Giang, 20220703

    3. Dùng dữ liệu để hỗ trợ quá trình ra quyết định: Chọn ngành & trường đại học

      Written by: Giang Nguyen

      Sep 14, 2021

      Bối cảnh

      Tại Việt Nam, việc trúng tuyển vào một trường đại học danh tiếng là một mốc quan trọng để có được một sự nghiệp thành công, đặc biệt là đối với những gia đình đến từ nông thôn hay có hoàn cảnh khó khăn. Hình thức thi tuyển vào đại học khác nhau tùy trường và tùy năm. Từ năm 2017 đến nay thì có thể kể đến:

      • Sử dụng điểm của kì thi Trung học phổ thông quốc gia
      • Xét tuyển thẳng
      • Xét học bạ
      • Kì thi riêng (ví dụ: Kì thi năng lực của nhóm Đại học Quốc gia TPHCM)

      Em gái của mình hoàn thành chương trình phổ thông vào năm nay và dự định sẽ tiếp tục học đại học. Em đã tham gia một số kì thi riêng (kì thi năng lực của DH Quốc gia), nhưng chưa đậu vào trường em yêu thích, nên điểm của kì thi THPT Quốc gia là phương án chính để xét tuyển vào đại học của em. Đây cũng là hình thức được nhiều trường sử dụng để tuyển sinh nhất, cụ thể, thí sinh sẽ đăng kí nguyện vọng vào khoảng tháng 3, thi kì thi này vào khoảng tháng 7, có điểm vào tháng 8 và thay đổi nguyện vọng vào cuối tháng 8. Các nguyện vọng được xét từ trên xuống, nếu đậu nguyện vọng đầu thì không xét các nguyện vọng sau, nếu không đậu thì tiếp tục xét các nguyện vọng tiếp theo.

      Vào tháng 3, em mình đã đăng kí 10 nguyện vọng, và sau khi biết điểm thi vẫn được điều chỉnh tối đa 3 lần nữa. Câu hỏi đặt ra là:

      • Ẻm có khả năng đậu nguyện vọng nào, dựa trên điểm thi THPT Quốc gia?
      • Làm thế nào để tối đa khả năng em sẽ đậu vào trường em mong muốn?

      Để trả lời câu hỏi này, mình đã làm những bước như sau:

      Bước 1: Hệ thống hóa:

      Mình có những dữ liệu nào?

      • Điểm của em mình
      • Các tổ hợp dùng để xét tuyển
      • Đề án tuyển sinh của các trường, trong đó có số chỉ tiêu tuyển sinh dự kiến theo từng phương thức tuyển sinh, mình chỉ quan tâm đến số chỉ tiêu cho phương thức xét điểm thi THPT Quốc gia thôi
      • Phổ điểm năm nay
      • Điểm trúng tuyển các năm trước
      • Các đánh giá về thị trường lao động, ngành “hot”
      • Các đánh giá về trường đại học, dự kiến điểm tuyển sinh

      Mình sử dụng mindmap để hệ thống lại một số thông tin về bài toán này như bên dưới:

      Bước 2: Tìm hiểu về business logic:

      Tới đây, mình xin phép thống nhất thuật ngữ theo cách mình hiểu (chưa chắc đã là từ ngữ chuẩn theo văn bản chính thức):

      • Nguyện vọng: bao gồm ngành + trường + hình thức đào tạo, được đại diện bằng Mã ngành + Mã trường + Mã tổ hợp xét tuyển. Tuy trong ngôn ngữ bình dân, ta thường nghe “đậu trường đại học X”, nhưng đây là một thuật ngữ không chính xác do trong mỗi trường có nhiều ngành với điểm chuẩn rất khác nhau.
      • Tổ hợp: thường là một tập hợp 3 môn thi, kí hiệu bằng 1 chữ cái và 2 số. Ví dụ: A00: Toán, Lý, Hóa; D01: Toán, Văn, Anh văn… Các nguyện vọng có thể được xét tuyển bằng điểm của nhiều tổ hợp. Một số trường sẽ có quy định đặc biệt cho điểm tổ hợp được xét tuyển, ví dụ như nhân hệ số 2 cho một môn nào đó.
      • Điểm chuẩn: là điểm tối thiểu mà thí sinh phải đạt để được nhận vào học ngành đó tại trường.
      • Ngành đào tạo: là những ngành mà trường sẽ mở trong năm nay, mỗi ngành có chỉ tiêu tuyển sinh dự kiến. Với mỗi ngành đào tạo, các trường có thể xét tuyển bằng nhiều tổ hợp. Để tối đa khả năng được nhận, mình sẽ liệt kê điểm tất cả các tổ hợp mà em mình có, ứng với các tổ hợp mà ngành đó xét tuyển, và lấy điểm của tổ hợp nào cao nhất.

      Nói ngắn gọn, trong trường hợp thông thường, chỉ sử dụng điểm để xét tuyển, không có tiêu chí phụ, việc đậu một nguyện vọng phụ thuộc vào:

      1. Điểm của thí sinh theo các tổ hợp xét tuyển
      2. Số lượng thí sinh nộp hồ sơ vào ngành đó của trường, theo từng tổ hợp
      3. Điểm của các thí sinh nộp hồ sơ vào ngành đó của trường, theo từng tổ hợp
      4. Số chỉ tiêu tuyển sinh ngành đó của trường

      Mình chỉ có dữ liệu 1 và 4, còn 2 và 3 là trường cũng chỉ biết ngay trước khi quyết định điểm chuẩn, nên mình chọn cách dự báo dựa trên điểm chuẩn các năm trước, với giả định là nếu các yếu tố liên quan đến quá trình tuyển sinh không đổi, thì điểm chuẩn sẽ như năm trước:

      • đề thi có độ khó tương đương năm trước & các thí sinh có trình độ tương đương năm trước
      • số lượng chỉ tiêu giữ nguyên
      • số hồ sơ nộp vào ngành đó giữ nguyên

      Tuy nhiên đời đâu có dễ ăn vậy:

      • Với các ngành “hot”, số lượng thí sinh nộp hồ sơ sẽ tăng cao => điểm chuẩn tăng
      • Nếu đề thi năm nay dễ hơn các năm trước, hoặc năng lực của thí sinh năm nay tốt hơn các năm trước, điểm thi sẽ tăng => điểm chuẩn tăng

      Do đó, mình sẽ lấy điểm chuẩn 3 năm vừa rồi (2018, 2019, 2020), tính tốc độ tăng/giảm điểm chuẩn của nhóm ngành đó, và xây dựng 3 kịch bản điểm chuẩn năm nay:

      Với ngành ổn định:

      1. Max = max điểm 3 năm + max tốc độ tăng
      2. Average = average điểm 3 năm + average tốc độ tăng 3 năm.
      3. Min = min điểm 3 năm + min tốc độ tăng 3 năm

      Với ngành hot:

      1. Max = điểm max 3 năm + max tốc độ tăng
      2. Average = điểm max 3 năm + average tốc độ tăng 3 năm.
      3. Min = điểm max 3 năm + min tốc độ tăng 3 năm

      Mình cũng xem phổ điểm của các tổ hợp năm nay xem số lượng thí sinh trong khoảng điểm mà các trường chấp nhận có tăng-giảm so với năm ngoái thế nào, nhưng mình chưa đủ khả năng để xét mối liên hệ của nó với sự tăng-giảm điểm chuẩn, nên mình tạm bỏ qua.

      Bước 3: Xây dựng mô hình tính toán

      Mình liệt kê các dữ liệu cần so sánh, cách tính toán từng mục, rồi tạo 1 file Google Sheets, gồm:

      1. Bảng điểm theo tổ hợp
      2. Phân tích nguyện vọng

      Bước 4: Thu thập thông tin & tính toán

      1. Liệt kê danh sách các ngành mà em mình quan tâm (Công nghệ thông tin & các ngành liên quan), và các trường có đào tạo ngành đó trong năm 2021. Chỗ này cần chút kinh nghiệm về ngành để mở rộng danh sách lựa chọn, vì với các bé thì đa phần chỉ biết công nghệ thông tin là công nghệ thông tin, không biết các ngành liên quan (công nghệ phần mềm, khoa học máy tính, hệ thống thông tin quản lý, khoa học dữ liệu, mở rộng ra thêm xíu thì ngành kinh tế ứng dụng, toán kinh tế làm CNTT cũng rất ok, chương trình học cũng có dạy code…)
      2. Điền điểm chuẩn 3 năm vừa rồi. Lưu ý là có một số trường có cách tính điểm chuẩn theo tổ hợp hơi khác (nhân hệ số môn nào đó chẳng hạn), cần đọc kĩ.
      3. Tính tốc độ tăng/giảm điểm chuẩn qua từng năm (điểm năm sau – điểm năm trước)
      4. Tính điểm chuẩn dự kiến theo 3 kịch bản min, max, avg. Em mình chọn cái ngành hơi hot (CNTT), nên mình dùng kịch bản ngành hot.
      5. Điền điểm của em mình, tính ra điểm để xét tuyển (có cộng ưu tiên) theo từng tổ hợp mà trường có tuyển cho ngành đó, đánh dấu tổ hợp có điểm cao nhất bằng Conditional Formating.
      6. Điền thêm vài thông tin để hỗ trợ ra quyết định: Số chỉ tiêu tuyển sinh bằng hình thức điểm kì thi THPT Quốc gia, Học phí, alumni network…

      Bước 5: Đánh giá

      Mình đối chiếu điểm của em mình với điểm chuẩn dự kiến ở từng nguyện vọng theo kịch 3 kịch bản, và cũng đánh dấu khả năng đậu/rớt theo từng kịch bản bằng Conditional Formatting (rớt: đỏ, đậu: xanh). Nếu trong cả 3 kịch bản đều rớt, nguyện vọng đó bị loại. Nếu đậu ở kịch bản min, cân nhắc giữ lại.

      Một số trường mà tụi mình quyết định bỏ ra khỏi danh sách vì điểm cao quá tầm với:

      • Tự nhiên
      • Bách khoa
      • Kinh tế
      • Công nghệ thông tin
      • Học viện Bưu chính viễn thông

      Một số trường mới xuất hiện:

      • Sư phạm: Ngành Công nghệ thông tin, thuộc khoa Toán Tin
      • Quốc tế: Ngành Khoa học dữ liệu

      Bước 6: Ra quyết định

      Bước này là sắp xếp thứ tự nguyện vọng và đổi trong phiếu đăng kí. Có 2 tiêu chí: độ yêu thích & khả năng đậu.

      • Các nguyện vọng đầu: độ yêu thích cao, khả năng đậu thấp.
      • Các nguyện vọng giữa: độ yêu thích trung bình, khả năng đậu cao.
      • Các nguyện vọng cuối: khả năng đậu cao, độ yêu thích thấp.

      Phù, đến đây thì mình cũng đã hỗ trợ em mình đổi nguyện vọng xong rồi, giờ đang chờ điểm chuẩn. Hi vọng ẻm sẽ đậu vào ngành ẻm yêu thích, để hỗ trợ bà chị chuẩn hóa cái quy trình củ chuối này.

      Cái file spreadsheet của mình bầy hầy lắm nên không dám share, cap màn hình cho mọi người coi chơi thôi:

      Bảng điểm theo tổ hợp

      Tốc độ tăng giảm điểm chuẩn của ngành

      Phân tích nguyện vọng

      Bước 7: Đối chiếu thực tế, xem xét mức độ chính xác của mô hình

      Cập nhật 10h sáng ngày 16/9: Em gái mình đã trúng tuyển vào khoa CNTT, trường Đại học Sư phạm TPHCM (nguyện vọng 3). Đây là một lựa chọn mà mình đã cân nhắc rất kĩ để xếp ngay dưới 2 nguyện vọng rất cao (Tự nhiên & Ngân hàng). Em cũng đủ điểm với ngành Khoa học dữ liệu, Đại học Quốc tế, tuy nhiên do vấn đề học phí, tụi mình đã xếp nó xuống thứ tư.

      Như vậy, với sự cân nhắc kĩ lưỡng, em mình đã chọn được một ngôi trường vừa sức, với ngành học mà em yêu thích. Giờ tụi mình sẽ tiếp tục lên kế hoạch học tập và phát triển các kĩ năng cần thiết để có thể gia nhập thị trường lao động trong 4 năm tới.

      Có người hỏi tại sao mình lại phải phức tạp như vậy, thì sau đây là một số ưu điểm của việc phân tích kĩ:

      • Giúp hiểu rõ cái mình muốn gồm những gì (ngành học, danh tiếng của trường, học phí, thầy cô…), và cái nào là quan trọng, để mở rộng danh sách lựa chọn,
      • Nhận diện ra “vũ khí bí mật”. Ví dụ, em gái mình dự định xét tuyển khối A1, nhưng sau khi tính điểm của tất cả các tổ hợp thì điểm D7 của ẻm là cao nhất => dùng tổ hợp này xét tuyển sẽ có lợi hơn

      Cảm ơn mọi người đã đọc tới đây. Chúc các bạn tân sinh viên sẽ có một quãng thời gian thật đẹp <3

      Nguồn tham khảo:

      http://thisinh.thithptquocgia.edu.vn/

      https://diemthi.vnexpress.net/tra-cuu-dai-hoc

      https://en.wikipedia.org/wiki/Education_in_Vietnam

      https://zingnews.vn/thi-dai-hoc-thay-doi-the-nao-sau-hon-45-nam-post682045.html

    4. Chuyện tự học cả đời và hiệu ứng cộng dồn

      Cũng lâu rồi, mình nhớ có một người cảm thán với mình rằng cái thứ gọi là “lifelong learning” mặc dù nghe rất hấp dẫn, nhưng cũng nên cẩn thận với việc một số nhóm có thể dùng nó để làm cái cớ phủi bay trách nhiệm trong việc hỗ trợ những người yếu thế cập nhật kiến thức và kĩ năng để đáp ứng với những thay đổi của thời thế, đặc biệt là thị trường lao động. Chẳng hạn, khi một người lao động không còn phù hợp cho vị trí công việc mới, thì đó là tại người ấy không chịu cập nhật kĩ năng.

      Về cơ bản, mình thấy việc tự học là một kĩ năng không dễ học được. Nó bao hàm nhiều vấn đề khó giải quyết, chẳng hạn như động lực, quản lý thời gian, lên kế hoạch, khả năng phân tích thị trường, khả năng mở rộng mối quan hệ, quản lý nguồn lực. Những kĩ năng như vậy đã khó đối với những người có điều kiện dư dả, lại càng khó với những người có ít điều kiện.Khi mình nhìn những bài báo về sự thành công của một người, mình thường ngẫm nghĩ về những yếu tố đã khiến họ đạt được điều đó, và tự đặt cho nó cái tên là hiệu ứng cộng dồn. Nếu được sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu chuộng học hành, thì ngay từ bé bạn đã được ưu tiên dành nhiều thời gian cho việc học. Với việc dành nhiều thời gian, bạn có thể học “khá” hơn tương đối so với những bạn còn đang vất vả phụ ba mẹ mưu sinh. Nếu bạn được học tiếng Anh từ nhỏ, trước khi chương trình chính thống bắt đầu, thì khi các bạn khác đang chật vật học phát âm cho đúng thì bạn đã có thể qua những bài dịch đơn giản. Nếu bạn đã được tiếp cận internet từ sớm, thì bạn đã tiến xa hơn rất nhiều người trong khả năng tiếp cận một lượng thông tin phong phú…

      Cứ thế, cứ thế, từ một chút khác biệt nhỏ ban đầu, qua nhiều năm, bạn đã tiến rất xa so với nhiều người khác. Còn những người đã không có, sẽ lại càng tụt lại phía sau.Lâu rồi, mình có đọc một bài viết liệt kê ra một loạt những điều tưởng chừng nho nhỏ, nhưng lại khiến cho mình tụt lại sau vạch xuất phát rất xa so với những người bạn đồng trang lứa. Đại loại, chúng bao gồm những định kiến về giới, về khoảng cách giàu nghèo, về vị trí địa lý, về khoảng thời gian có thể dành thêm cho việc học, về chế độ dinh dưỡng… Mình tự nhận rằng mình là một đứa trẻ trung bình, nhưng khi đếm lại, mình buồn bã nhận ra rằng mình tụt lại sau điểm xuất phát cũng kha khá.

      Mình viết ra điều này không phải để oán trách về sự bất công, bởi mình vốn xem công bằng cũng như đường chân trời kia thôi, chỉ có thể đến gần chứ không bao giờ đạt tới. Trong chừng mực nhỏ bé của một con người, mình chỉ nỗ lực để gom góp những điều chút xíu thôi, chẳng hạn:

      1. Học thêm ngoại ngữ (tiếng Anh)

      2. Tăng cường khả năng tìm kiếm, phân loại, xử lý thông tin

      3. Tích cực kết nối với những chuyên gia

      Nếu xuất phát điểm của bạn ở phía sau, cách duy nhất là phải tăng tốc lên. Một người mà mình rất ngưỡng mộ về khả năng tìm tòi học hỏi đó là anh Trần Xuân Ngọc. Vốn ảnh đã nổi tiếng từ lâu về việc ứng dụng game vào đào tạo rồi, nay ảnh còn chia sẻ về kỹ năng tự học trong group này nữa nè. Điểm xuất phát của ảnh bị lùi về phía sau rất nhiều, nhưng đã được bù đắp bằng những chuỗi ngày cần mẫn miệt mài, và mình tin là ảnh đang bắt đầu gặt quả ngọt rồi :3

      https://www.facebook.com/groups/tuhoc.nguoimoibatdau

      20201013

      Trà Giang

    5. Vịt con xấu xí

      Câu chuyện cổ điển này nêu lên câu hỏi về việc bắt nạt, phân biệt, và tầm quan trọng của việc trung thực với bản thân

      Source: https://www.prindleinstitute.org/wp-content/uploads/2020/07/Screen-Shot-2020-06-11-at-10.43.07-AM.png

      Tác giả: Hans Christian Andersen

      (Viết lại: Jerrry Pinkney)

      Tóm tắt

      Vịt Con Xấu Xí trông rất khác với những anh chị em của mình – chúng lấy chú ra làm trò cười và đối xử với chú một cách tàn tệ vì chú không giống họ. Chú tìm một nơi mà mình được chấp nhận như chính bản thân mình. Nơi đó không phải với vịt, gà mái hay ngỗng, cũng không phải với bà cụ cùng con mèo và con gà mái của bà. Chú ước mình xinh đẹp như những con thiên nga mà chú nhìn thấy trên bầu trời và có những người bạn không chọc ghẹo chú. Vào mùa xuân, chú đã trưởng thành và cố gắng nhập vào một đàn thiên nga. Những con thiên nga trẻ không trêu chọc chú như tất cả những sinh vật khác, mà họ đối xử với chú như chú là một trong số họ. Chú ngạc nhiên rằng những sinh vật xinh đẹp như vậy lại muốn ở bên mình. Nhưng rồi chú nhìn thấy cái bóng phản chiếu trên mặt nước của mình và thấy chú cũng là một con thiên nga xinh đẹp. Cuối cùng chú đã tìm thấy ngôi nhà của mình với những con thiên nga và đã được yên bình khỏi mọi điều chế giễu và nhạo báng mà chú đã phải chịu đựng trong quá khứ.

      Video đọc truyện

      Hướng dẫn thảo luận triết học

      MELANIE STUART

      Vịt Con Xấu Xí bị các thành viên trong gia đình phân biệt đối xử bởi chú không giống họ. Chú  liên tục bị những con vịt và các thành viên của bất kì nhóm động vật nào mà chú cố gắng tìm một mái nhà với chúng, chẳng hạn như  gà mái và mèo, trêu chọc, bắt nạt, và thậm chí làm chú bị tổn thương về thể chất. Thậm chí cả con người cũng xấu xa với chú. Tình trạng của chú giống như một đứa trẻ bị một người bạn cùng lớp bắt nạt ở sân trường. Đứa trẻ bị bắt nạt bằng lời nói và / hoặc về mặt thể xác vì những thứ mà trong mắt những kẻ bắt nạt là những khác biệt không thể chấp nhận được như mặc các loại quần áo khác nhau, có cách nghĩ khác, hoặc đơn giản là nhìn khác nhau. Đây là một hình thức phân biệt đối xử vô lý. Trong khi một số hình thức phân biệt đối xử có thể là vô ý, thì hình thức của phân biệt đối xử trong câu chuyện này, như trường hợp với kẻ bắt nạt trong sân trường, là có ý thức và cố ý. Phân biệt đối xử là một dạng thành kiến, bao gồm cảm giác thù địch, phản đối hoặc thờ ơ, cũng như niềm tin vào sự kém cỏi hơn về mặt đạo đức, trí tuệ hoặc kỹ năng của người hoặc nhóm người bị nhắm làm mục tiêu. Câu chuyện đặt ra một trường hợp thành kiến ​​cố chấp, hung hăng theo cách khiến sự tổn hại của sự phân biệt đối xử đó trở nên rất rõ ràng.

      Câu hỏi thảo luận triết học

      1. Tại sao các loài động vật khác lại gọi Vịt Con Xấu Xí là xấu xí? Họ đã nói gì khi họ gọi chú là xấu xí? Liệu việc trông khác biệt có khiến cho ai đó xấu xí?

      2. Tại sao một người nào đó trêu chọc / bắt nạt / đem những người trông khác với họ ra làm trò cười?

      3. Có tình huống nào mà việc đánh giá ai đó qua ngoại hình của họ là chấp nhận được không? (Ví dụ như các cuộc thi sắc đẹp, thời trang, phỏng vấn xin việc…) Điều khiến cho những tình huống này khác với trường hợp của Vịt Con Xấu Xí là gì?

      4. Liệu bạn có phải trông giống như những người xung quanh mình để phù hợp với họ?

      5. Tại sao Vịt Con Xấu Xí phải tìm thấy những con chim trông giống như chú để biết và cảm thấy thoải mái với việc mình là ai?

      6. Liệu việc một người trông như thế nào từ bên ngoài có quyết định rằng họ là ai?

      NGUYỄN THỊ TRÀ GIANG dịch


      Nguồn: https://www.teachingchildrenphilosophy.org/BookModule/TheUglyDuckling

      Bài viết đã đăng tại: http://triethoc.edu.vn/vi/chuyen-de-triet-hoc/triet-hoc-cho-tre-em/vit-con-xau-xi_834.html

    6. Khoa học hành vi

      Khoa học hành vi – behavioral science, chủ đề rất được quan tâm gần đây, đặc biệt sau khi giải Nobel kinh tế được trao cho Richard Thaler năm 2017 về chủ đề kinh tế học hành vi.

      Nhưng, khoa học hành vi là gì? Sau đây là tổng hợp một số định nghĩa:

      Theo từ điển Britannica:

      Behavioral science, any of various disciplines dealing with the subject of human actions, usually including the fields of sociology, social and cultural anthropology, psychology, and behavioral aspects of biology, economics, geography, law, psychiatry, and political science. The term gained currency in the 1950s in the United States; it is often used synonymously with “social sciences,” although some writers distinguish between them. The term behavioral sciences suggests an approach that is more experimental than that connoted by the older term social sciences.

      https://www.britannica.com/science/behavioral-science

      Khoa học hành vi, bất kỳ ngành nào liên quan đến chủ đề hành động của con người, thường bao gồm các lĩnh vực xã hội học, nhân học xã hội và văn hóa, tâm lý học và các khía cạnh hành vi của sinh học, kinh tế, địa lý, luật, tâm thần học và khoa học chính trị. Thuật ngữ này đã trở nên phổ biến trong những năm 1950 ở Hoa Kỳ; nó thường được sử dụng đồng nghĩa với “khoa học xã hội”, mặc dù một số tác giả vẫn phân biệt giữa chúng. Thuật ngữ khoa học hành vi gợi ý một cách tiếp cận dựa trên thực nghiệm hơn so với thuật ngữ khoa học xã hội cũ hơn.

      Như vậy, có thể xem từ “khoa học hành vi” thời thượng này tương đương với “khoa học xã hội”, với cách tiếp cận dựa trên thực nghiệm nhiều hơn, và bao trùm rất nhiều ngành khoa học quen thuộc khác.

      Một số nguồn thông tin để tìm hiểu về khoa học hành vi:

      1. https://behavioralscientist.org/

      [Mỹ] Một tạp chí phi lợi nhuận, đa dạng chủ đề từ kinh tế, công nghệ, , được viết bởi các nhà nghiên cứu, nhà thực hành và phóng viên hàng đầu về khoa học hành vi (có thể tham khảo danh sách của Ban biên tập và Ban cố vấn tại đây: http://behavioralscientist.org/masthead/ – Richard Thaler cũng có tên trong ban cố vấn)

      Đánh giá:

      • Đáng tin cậy: Cao
      • Đa dạng: Cao
      • Phù hợp để đọc với mục đích học thuật & một số ứng dụng

      2. https://www.behavioraleconomics.com/consulting/

      [Anh] Trang web của công ty tư vấn Behavioral Science Solutions Ltd.. Đứng đầu là Tiến sĩ Alain Samson (https://www.linkedin.com/in/alainsamson/)

      Trong phần Resources là danh sách tài liệu về khoa học hành vi, gồm: các sự kiện, thuật ngữ chính, chương trình học sau đại học, các bài TED Talk, tạp chí khoa học…

      Đánh giá:

      • Đáng tin cậy: Trung bình
      • Đa dạng: Thấp
      • Phù hợp để bắt đầu với phần thuật ngữ và đọc với mục đích ứng dụng. Phần blog không có nhiều bài, nhưng cũng khá thú vị và có tính ứng dụng cao: https://www.behavioraleconomics.com/blog/

      3. https://thedecisionlab.com/behavioral-insights/

      [Canada] Trang web của Decision Lab, một tập đoàn nghiên cứu về ý thức xã hội tại Canada. Cung cấp dịch vụ tư vấn cho các tập đoàn lớn.

      Đánh giá:

      • Đáng tin cậy: Trung bình
      • Đa dạng: Cao
      • Phù hợp để đọc với mục đích ứng dụng

      20201011

      Giang Nguyễn tổng hợp, đánh giá, dịch, review

    7. Ba loại câu hỏi

      Triết học là câu hỏi, nhưng không phải câu hỏi nào cũng là triết học.
      Nhìn chung, trên đời có ba loại câu hỏi.
      1. Câu hỏi đời thường
      2. Câu hỏi khoa học
      3. Câu hỏi triết học
      Câu hỏi đời thường là những câu hỏi dễ trả lời và dễ thống nhất. Ví dụ: Ăn cơm chưa?, Mấy giờ rồi?
      Câu hỏi khoa học là những câu hỏi khó, nhưng xác suất tìm ra câu trả lời lớn và có thể thống nhất được. Ví dụ: Tốc độ của ánh sáng là bao nhiêu? Trái đất hình cầu hay hình lập phương?
      Câu hỏi triết học là những câu hỏi khó, mang tính cơ bản, nền tảng, quy định nhiều sự vật hiện tượng. Nó đụng chạm đến những vấn đề cơ bản của cuộc sống con người, không thể không tranh cãi, khó có giải pháp chung cuộc.
      Có nhiều câu hỏi triết học khác nhau, tùy vào câu hỏi mà hình thành nên những bộ môn triết học khác nhau.
      Ví dụ về các loại câu hỏi về cùng một lĩnh vực
      1. Hỏi người qua đường: “Mấy giờ rồi?” => Câu hỏi đời thường
      Hỏi tiếp: “Thời gian là gì?” => Câu hỏi triết học
      2. Hỏi cô thu ngân: “Nãy giờ cô đếm được bao nhiêu tiền?” => Câu hỏi đời thường
      Tiếp tục hỏi về vấn đề cơ bản hơn, đếm thì liên quan đến con số. Vậy con số là gì? Đây là câu hỏi khoa học. Nhà toán học sẽ giải đáp cho ta.
      Cơ bản hơn nữa, con số dùng để đo đếm lượng (quantity). Vậy lượng là gì? Đây lại là câu hỏi triết học.
      3. Trong buổi tiệc liên hoan cuối năm, hỏi sếp: “Chia cái bánh thế nào đây sếp?”. Đây là câu hỏi đời thường, nhưng hỏi tiếp: “Chia cái bánh thế nào cho công bằng?”, thì đây lại là câu hỏi triết học, vì nó đụng chạm đến một vấn đề cơ bản: “thế nào là công bằng?”
      Bình Lợi, ngày 1.1.2016
      (Bài giảng của thầy Bùi Văn Nam Sơn, Trà Giang ghi chép)
      Nhà nghiên cứu triết học: Bùi Văn Nam Sơn – Tháng 4 năm 2016
      —