Category: learning

  • Vịt con xấu xí

    Câu chuyện cổ điển này nêu lên câu hỏi về việc bắt nạt, phân biệt, và tầm quan trọng của việc trung thực với bản thân

    Source: https://www.prindleinstitute.org/wp-content/uploads/2020/07/Screen-Shot-2020-06-11-at-10.43.07-AM.png

    Tác giả: Hans Christian Andersen

    (Viết lại: Jerrry Pinkney)

    Tóm tắt

    Vịt Con Xấu Xí trông rất khác với những anh chị em của mình – chúng lấy chú ra làm trò cười và đối xử với chú một cách tàn tệ vì chú không giống họ. Chú tìm một nơi mà mình được chấp nhận như chính bản thân mình. Nơi đó không phải với vịt, gà mái hay ngỗng, cũng không phải với bà cụ cùng con mèo và con gà mái của bà. Chú ước mình xinh đẹp như những con thiên nga mà chú nhìn thấy trên bầu trời và có những người bạn không chọc ghẹo chú. Vào mùa xuân, chú đã trưởng thành và cố gắng nhập vào một đàn thiên nga. Những con thiên nga trẻ không trêu chọc chú như tất cả những sinh vật khác, mà họ đối xử với chú như chú là một trong số họ. Chú ngạc nhiên rằng những sinh vật xinh đẹp như vậy lại muốn ở bên mình. Nhưng rồi chú nhìn thấy cái bóng phản chiếu trên mặt nước của mình và thấy chú cũng là một con thiên nga xinh đẹp. Cuối cùng chú đã tìm thấy ngôi nhà của mình với những con thiên nga và đã được yên bình khỏi mọi điều chế giễu và nhạo báng mà chú đã phải chịu đựng trong quá khứ.

    Video đọc truyện

    Hướng dẫn thảo luận triết học

    MELANIE STUART

    Vịt Con Xấu Xí bị các thành viên trong gia đình phân biệt đối xử bởi chú không giống họ. Chú  liên tục bị những con vịt và các thành viên của bất kì nhóm động vật nào mà chú cố gắng tìm một mái nhà với chúng, chẳng hạn như  gà mái và mèo, trêu chọc, bắt nạt, và thậm chí làm chú bị tổn thương về thể chất. Thậm chí cả con người cũng xấu xa với chú. Tình trạng của chú giống như một đứa trẻ bị một người bạn cùng lớp bắt nạt ở sân trường. Đứa trẻ bị bắt nạt bằng lời nói và / hoặc về mặt thể xác vì những thứ mà trong mắt những kẻ bắt nạt là những khác biệt không thể chấp nhận được như mặc các loại quần áo khác nhau, có cách nghĩ khác, hoặc đơn giản là nhìn khác nhau. Đây là một hình thức phân biệt đối xử vô lý. Trong khi một số hình thức phân biệt đối xử có thể là vô ý, thì hình thức của phân biệt đối xử trong câu chuyện này, như trường hợp với kẻ bắt nạt trong sân trường, là có ý thức và cố ý. Phân biệt đối xử là một dạng thành kiến, bao gồm cảm giác thù địch, phản đối hoặc thờ ơ, cũng như niềm tin vào sự kém cỏi hơn về mặt đạo đức, trí tuệ hoặc kỹ năng của người hoặc nhóm người bị nhắm làm mục tiêu. Câu chuyện đặt ra một trường hợp thành kiến ​​cố chấp, hung hăng theo cách khiến sự tổn hại của sự phân biệt đối xử đó trở nên rất rõ ràng.

    Câu hỏi thảo luận triết học

    1. Tại sao các loài động vật khác lại gọi Vịt Con Xấu Xí là xấu xí? Họ đã nói gì khi họ gọi chú là xấu xí? Liệu việc trông khác biệt có khiến cho ai đó xấu xí?

    2. Tại sao một người nào đó trêu chọc / bắt nạt / đem những người trông khác với họ ra làm trò cười?

    3. Có tình huống nào mà việc đánh giá ai đó qua ngoại hình của họ là chấp nhận được không? (Ví dụ như các cuộc thi sắc đẹp, thời trang, phỏng vấn xin việc…) Điều khiến cho những tình huống này khác với trường hợp của Vịt Con Xấu Xí là gì?

    4. Liệu bạn có phải trông giống như những người xung quanh mình để phù hợp với họ?

    5. Tại sao Vịt Con Xấu Xí phải tìm thấy những con chim trông giống như chú để biết và cảm thấy thoải mái với việc mình là ai?

    6. Liệu việc một người trông như thế nào từ bên ngoài có quyết định rằng họ là ai?

    NGUYỄN THỊ TRÀ GIANG dịch


    Nguồn: https://www.teachingchildrenphilosophy.org/BookModule/TheUglyDuckling

    Bài viết đã đăng tại: http://triethoc.edu.vn/vi/chuyen-de-triet-hoc/triet-hoc-cho-tre-em/vit-con-xau-xi_834.html

  • Khoa học hành vi

    Khoa học hành vi – behavioral science, chủ đề rất được quan tâm gần đây, đặc biệt sau khi giải Nobel kinh tế được trao cho Richard Thaler năm 2017 về chủ đề kinh tế học hành vi.

    Nhưng, khoa học hành vi là gì? Sau đây là tổng hợp một số định nghĩa:

    Theo từ điển Britannica:

    Behavioral science, any of various disciplines dealing with the subject of human actions, usually including the fields of sociology, social and cultural anthropology, psychology, and behavioral aspects of biology, economics, geography, law, psychiatry, and political science. The term gained currency in the 1950s in the United States; it is often used synonymously with “social sciences,” although some writers distinguish between them. The term behavioral sciences suggests an approach that is more experimental than that connoted by the older term social sciences.

    https://www.britannica.com/science/behavioral-science

    Khoa học hành vi, bất kỳ ngành nào liên quan đến chủ đề hành động của con người, thường bao gồm các lĩnh vực xã hội học, nhân học xã hội và văn hóa, tâm lý học và các khía cạnh hành vi của sinh học, kinh tế, địa lý, luật, tâm thần học và khoa học chính trị. Thuật ngữ này đã trở nên phổ biến trong những năm 1950 ở Hoa Kỳ; nó thường được sử dụng đồng nghĩa với “khoa học xã hội”, mặc dù một số tác giả vẫn phân biệt giữa chúng. Thuật ngữ khoa học hành vi gợi ý một cách tiếp cận dựa trên thực nghiệm hơn so với thuật ngữ khoa học xã hội cũ hơn.

    Như vậy, có thể xem từ “khoa học hành vi” thời thượng này tương đương với “khoa học xã hội”, với cách tiếp cận dựa trên thực nghiệm nhiều hơn, và bao trùm rất nhiều ngành khoa học quen thuộc khác.

    Một số nguồn thông tin để tìm hiểu về khoa học hành vi:

    1. https://behavioralscientist.org/

    [Mỹ] Một tạp chí phi lợi nhuận, đa dạng chủ đề từ kinh tế, công nghệ, , được viết bởi các nhà nghiên cứu, nhà thực hành và phóng viên hàng đầu về khoa học hành vi (có thể tham khảo danh sách của Ban biên tập và Ban cố vấn tại đây: http://behavioralscientist.org/masthead/ – Richard Thaler cũng có tên trong ban cố vấn)

    Đánh giá:

    • Đáng tin cậy: Cao
    • Đa dạng: Cao
    • Phù hợp để đọc với mục đích học thuật & một số ứng dụng

    2. https://www.behavioraleconomics.com/consulting/

    [Anh] Trang web của công ty tư vấn Behavioral Science Solutions Ltd.. Đứng đầu là Tiến sĩ Alain Samson (https://www.linkedin.com/in/alainsamson/)

    Trong phần Resources là danh sách tài liệu về khoa học hành vi, gồm: các sự kiện, thuật ngữ chính, chương trình học sau đại học, các bài TED Talk, tạp chí khoa học…

    Đánh giá:

    • Đáng tin cậy: Trung bình
    • Đa dạng: Thấp
    • Phù hợp để bắt đầu với phần thuật ngữ và đọc với mục đích ứng dụng. Phần blog không có nhiều bài, nhưng cũng khá thú vị và có tính ứng dụng cao: https://www.behavioraleconomics.com/blog/

    3. https://thedecisionlab.com/behavioral-insights/

    [Canada] Trang web của Decision Lab, một tập đoàn nghiên cứu về ý thức xã hội tại Canada. Cung cấp dịch vụ tư vấn cho các tập đoàn lớn.

    Đánh giá:

    • Đáng tin cậy: Trung bình
    • Đa dạng: Cao
    • Phù hợp để đọc với mục đích ứng dụng

    20201011

    Giang Nguyễn tổng hợp, đánh giá, dịch, review

  • Ba loại câu hỏi

    Triết học là câu hỏi, nhưng không phải câu hỏi nào cũng là triết học.
    Nhìn chung, trên đời có ba loại câu hỏi.
    1. Câu hỏi đời thường
    2. Câu hỏi khoa học
    3. Câu hỏi triết học
    Câu hỏi đời thường là những câu hỏi dễ trả lời và dễ thống nhất. Ví dụ: Ăn cơm chưa?, Mấy giờ rồi?
    Câu hỏi khoa học là những câu hỏi khó, nhưng xác suất tìm ra câu trả lời lớn và có thể thống nhất được. Ví dụ: Tốc độ của ánh sáng là bao nhiêu? Trái đất hình cầu hay hình lập phương?
    Câu hỏi triết học là những câu hỏi khó, mang tính cơ bản, nền tảng, quy định nhiều sự vật hiện tượng. Nó đụng chạm đến những vấn đề cơ bản của cuộc sống con người, không thể không tranh cãi, khó có giải pháp chung cuộc.
    Có nhiều câu hỏi triết học khác nhau, tùy vào câu hỏi mà hình thành nên những bộ môn triết học khác nhau.
    Ví dụ về các loại câu hỏi về cùng một lĩnh vực
    1. Hỏi người qua đường: “Mấy giờ rồi?” => Câu hỏi đời thường
    Hỏi tiếp: “Thời gian là gì?” => Câu hỏi triết học
    2. Hỏi cô thu ngân: “Nãy giờ cô đếm được bao nhiêu tiền?” => Câu hỏi đời thường
    Tiếp tục hỏi về vấn đề cơ bản hơn, đếm thì liên quan đến con số. Vậy con số là gì? Đây là câu hỏi khoa học. Nhà toán học sẽ giải đáp cho ta.
    Cơ bản hơn nữa, con số dùng để đo đếm lượng (quantity). Vậy lượng là gì? Đây lại là câu hỏi triết học.
    3. Trong buổi tiệc liên hoan cuối năm, hỏi sếp: “Chia cái bánh thế nào đây sếp?”. Đây là câu hỏi đời thường, nhưng hỏi tiếp: “Chia cái bánh thế nào cho công bằng?”, thì đây lại là câu hỏi triết học, vì nó đụng chạm đến một vấn đề cơ bản: “thế nào là công bằng?”
    Bình Lợi, ngày 1.1.2016
    (Bài giảng của thầy Bùi Văn Nam Sơn, Trà Giang ghi chép)
    Nhà nghiên cứu triết học: Bùi Văn Nam Sơn – Tháng 4 năm 2016
  • Để tiếng kêu cứu không rơi tõm vào thinh không

    Những ngày bị stress, mình nhận ra rằng mình cũng chẳng phải là mạnh mẽ gì cho lắm. Yếu ớt lắm là đằng khác.
    Đầu mình căng, nước mắt chỉ chực trào ra. Mình sợ, sợ lắm. Mình sợ đói, sợ bị coi thường, sợ không ai cần mình. Mình muốn trốn, mình muốn ngủ, mình muốn chết, mình muốn ra ngoài ban công kia và thả mình rơi xuống, mình muốn cầm dao cứa vào tay, mình muốn lao đầu vào xe tải.
    Chết, thực ra cũng chỉ là một giấc ngủ dài.
    Mình đã nghĩ tới chuyện chết. Mình cảm thấy mình đang hoảng loạn lắm. Mình cố gắng nói với sếp, với hai người chị mà mình thân quen trong team, với bạn thân mình rằng, mình đang không ổn, mình có ý định muốn tự tử. Mình đang cố gắng giữ mình tránh xa khỏi những thứ có thể gây hại đến mình, nhưng mình không chắc. Nếu ngay cả việc sợ đói mình cũng không còn sợ, thì chẳng còn gì níu giữ mình lại với đời. Chút tỉnh táo còn lại, mình chỉ đủ sức để giữ mình tránh xa dao kéo, tránh xa xe lớn, và không đến gần cửa sổ mà thôi.
    Trong cơn mơ mình mơ thấy mình chạy trốn vào một căn nhà. Cửa sổ rộng nhìn ra một trảng cỏ ngập nắng. Sàn gỗ. Có hai cái gương để đối diện nhau. Mình nhìn hết cái này đến cái kia. Một cái gương vẫy gọi: “Vào đây, trốn vào đây này”. Mình bước đến nó, chạm tay vào mặt gương tối đen và rơi tuột vào trong, đen thẳm, hun hút. Khi chân mình chạm đất, mình ngơ ngác nhìn quanh, vẫn tối như hũ nút. Những gương mặt chôn trong những hình đa giác như những mảnh gương vỡ sà xuống đầu mình như một tấm lưới. Những gương mặt đau khổ, cười méo mó, tuyệt nhiên không có lấy một nụ cười vui. Mình khóc.
    Buổi sáng hôm ấy mình đi làm sớm. Chị đồng nghiệp rủ mình ra pantry và share cho mình nửa phần đồ ăn sáng. Hỏi han mình, rằng sao mà hôm qua lại khóc. Mình cười méo xẹo, bảo rằng em chưa làm tốt, nên bị la. Em biết em bị la là đúng, nhưng em sợ lắm. Em chỉ cần một chút động viên thôi mà. Tại sao chị ấy lại không cho em?
    Chị đồng nghiệp bảo rằng, Giang à, người ta không thể cho cái người ta không có. Bây giờ túi chị không có tiền, mà em cứ nằng nặc: “Chị Q, cho em 5 ngàn”, em thấy vậy có hợp lý hông?
    Mình cười, cảm thấy nhẹ lòng hơn. Ngồi nghe chị ấy kể chuyện của chị ấy hồi mới đi làm, về “thương”, về “từ bi”, về “đức”, “trường năng lượng”.
    Buổi chiều hôm đó, trong lúc đang căng ra viết lại cái PA, một chị đồng nghiệp khác đi qua, nói: “Giang, giãn cái mặt ra”. Một chị khác: “Giang, sao mấy bữa nay mày im quá vậy? Tại tao nói nhiều quá hả?” Và cũng chị ấy chờ mình cùng đi xuống hầm để xe, nói mình rằng “Công việc không phải là tất cả”, dù chị ấy là người làm việc chăm chỉ và năng suất gần như nhất team ấy.
    Mình cảm thấy ấm áp và may mắn quá.
    Khi mình nhận ra rằng mình cần thương người khác cả khi họ đối tốt với mình, lẫn thương họ vì lý do gì đó đã khiến họ có những hạn chế trong hiện tại, để không đối xử tốt với mình, mình bắt đầu không chống đối. Thật khó để nhận ra rằng mình cũng đang chống đối ngấm ngầm. Nhưng khi mình tỏ thái độ hợp tác, mọi chuyện có vẻ dễ dàng hơn. Mình vẫn bị la, nhưng mình bớt buồn. Mình bắt đầu cười, bắt đầu đi loanh quanh. Các chị đồng nghiệp vẫn bắt mình giãn mặt ra. Mình vẫn đang không ổn. Nhưng hi vọng là mọi thứ đang tốt lên.
    Hôm nay, sau khi chỉnh sửa lại trang thông tin cho 2 hoạt động của team, mình thấy sếp có rep một chữ “good!” nho nhỏ. Mình cảm thấy vui.
    Nghe có vẻ kì lạ khi mình nói với ai đó về cơn hoảng loạn của mình. Người ta có xu hướng giữ kín để mình mình giải quyết. Nhưng mình không muốn. Có lẽ việc làm đó bắt đầu từ việc mình nhớ về một câu nói của ai đó rằng, khi một ai đó đi đến quyết định tự tử, trước đó họ đã kêu cứu, nhưng không ai nghe. Tiếng kêu cứu của họ rơi tõm vào thinh không. Nên trong lúc còn tỉnh táo, mình cố gắng kêu cứu. Để ít ra, tiếng kêu cứu của mình có được nghe. Và may quá. Đã có người nghe.

  • 7 cốt truyện cơ bản và ứng dụng vào các chiến dịch quảng cáo

    Liệu mọi câu chuyện đều có thể được xác định bằng các nguyên mẫu? Ở đây, chúng ta sẽ chỉ ra những nét chính trong lý thuyết của Christopher Booker về bảy cốt truyện cơ bản. 

    Bây giờ, bạn nên hiểu rõ về thứ mà chúng ta đang nói đến khi nói về cách kể chuyện và tại sao bạn có thể dùng hình thức kể chuyện để làm nổi bật và củng cố công việc sáng tạo của mình.

    Bây giờ chúng ta hãy xem xét kỹ hơn các câu chuyện.

    Các câu chuyện có thể về bất cứ thứ gì. Tất cả mọi thứ. Hãy nghĩ về câu chuyện yêu thích của bạn, và tôi đảm bảo nó sẽ hoàn toàn khác với câu chuyện của người bên cạnh bạn. Các nhân vật khác nhau, bối cảnh khác nhau, kết thúc khác nhau, v.v.

    Nhưng tất cả những câu chuyện khác nhau này có điểm gì chung không?

    Christopher Booker cho là có, thực sự là chúng có điểm chung. Trong cuốn sách The Seven Basic Plots: Why We Tell Stories [Bảy cốt truyện cơ bản: Tại sao chúng ta kể chuyện] (2004), ông giải thích rằng “thật ra chỉ có một số ít cốt truyện rất cơ bản trong cách chúng ta kể chuyện, mà gần như không người kể chuyện nào có thể phá vỡ chúng”.

    Chúng ta sẽ xem xét bảy nguyên mẫu cốt truyện mà Booker cho là sẽ giới thiệu tất cả các câu chuyện và khám phá cách chúng có thể được sử dụng để giúp bạn định hình một câu chuyện có liên quan trong quảng cáo.

    Bảy cốt truyện cơ bản

    1. Chiến thắng quái vật

    Có một thế lực tà ác đe doạ anh hùng của chúng ta/thế giới/nhân loại. Người anh hùng phải chiến đấu và giết con quái vật này, điều này thường không dễ dàng, nhưng họ chiến thắng vẻ vang và được trọng thưởng. Liên hệ với Beowulf, Dracula King Kong.

    Chúng ta thấy cốt truyện này xuất hiện nhiều lần trong thế giới quảng cáo. Hãy nghĩ về ‘quái vật’ như một chướng ngại vật (rất hiếm khi là một con quái vật thực sự!), người anh hùng phải chiến đấu để vượt qua, thường với sự giúp đỡ của một thương hiệu.

    1. Đổi đời (khố rách áo ôm thành giàu sang nhung lụa)

    Cốt truyện này có lẽ không cần giải thích gì thêm: lúc đầu, anh hùng của chúng ta chẳng có gì nổi bật và bị người khác coi thường, nhưng rồi thứ gì đó xảy ra khiến họ được nâng tầm, để lộ ra rằng họ là đặc biệt. Liên hệ với Vịt con xấu xí, Aladdin và Superman.

    Trong marketing, làm thế nào để có thể phát hiện ra một sản phẩm / thương hiệu giúp ai đó nâng tầm bản thân, biến đổi cuộc sống của họ?

    1. Nhiệm vụ

    Trong nhiệm vụ, anh hùng của chúng ta phải bắt đầu một hành trình dài, nguy hiểm, và sẽ chiến đấu với mọi chướng ngại cho đến khi chiến thắng. Liên hệ với Chúa tể của những chiếc nhẫn, The Phù thủy xứ Oz Harry Potter.

    Trong quảng cáo, chúng ta có thể thấy anh hùng của chúng ta hướng vào các giá trị của thương hiệu khi họ tiến lên để làm những điều tốt đẹp và đạt được mục tiêu của mình.

    1. Ra đi và trở về

    Cũng dựa trên một hành trình, nhưng Ra đi và trở về rất khác với Nhiệm vụ. Ở đây, anh hùng đi ra khỏi ‘thế giới bình thường’ của họ để tiến vào nơi vô định và choáng ngợp, trước khi trốn thoát về với chốn an toàn ở nhà mình. Liên hệ với Alice ở xứ sở diệu kì, Đi tìm Nemo Gulliver.

    Làm thế nào một thương hiệu có thể đưa bạn đến một thế giới khác? Bạn có thể mô tả trải nghiệm của một sản phẩm qua một hành trình không?

    1. Hài kịch

    Một câu chuyện được tạo thành từ các sự kiện hài hước, thường liên quan đến nhận dạng nhầm, hiểu nhầm hay lẫn lộn, dẫn đến hỗn loạn vui nhộn. Liên hệ với Giấc mộng đêm hè, Nhật ký tiểu thư Jones Some Like It Hot.

    Hài kịch trong quảng cáo thường được dùng để chỉ ra tình huống mà khách hàng có thể gặp phải nếu họ không sử dụng thương hiệu / sản phẩm của bạn.

    1. Bi kịch

    Đây là câu chuyện không có kết thúc có hậu. Trong các nguyên mẫu khác, chúng ta đã thấy những vị anh hùng chiến thắng và những con quái vật bị giết, cốt truyện này lại đi theo hướng khác, và kết thúc trong sự mất mát hoặc cái chết. Liên hệ với Macbeth, Romeo và Juliet và Breaking Bad.

    Thận trọng khi dùng, chúng ta thường thấy bi kịch được sử dụng thường xuyên đi đôi một cách chặt chẽ với các thủ thuật gây sốc trong quảng cáo từ thiện.

    1. Tái sinh

    Loại cốt truyện cuối cùng của chúng ta, tái sinh, người anh hùng “chịu một lời nguyền” – có thể là giấc ngủ, bệnh tật hoặc bị bỏ bùa mê – trước khi được giải thoát để tự do và được cứu chuộc. Hãy nghĩ về Người đẹp ngủ trong rừng, Người đẹp và quái vật Khu vườn bí mật.

    Khi dùng cốt truyện Tái sinh vào quảng cáo, bạn có thể liên hệ ‘lời nguyền’ là thời gian không có thương hiệu / sản phẩm của mình, hoặc có thể thương hiệu của bạn có khả năng kết nối lại hoặc truyền cảm hứng lại cho mọi người?

    Bạn không cần phải sử dụng các nguyên mẫu này như như một hướng dẫn cần tuân thủ nghiêm ngặt, nhưng thật thú vị khi hiểu các hình mẫu khác nhau mà câu chuyện có thể đi theo, khi nào và tại sao chúng ta có thể sử dụng chúng.

    Tất nhiên, những câu chuyện không phải lúc nào cũng sử dụng một cốt truyện rõ ràng. Chúng có thể là một sự kết hợp phức tạp của rất nhiều nguyên mẫu khác nhau.

    Bảy bước tiếp theo [trong khóa học Storytelling in Advertising – ND] đều chỉ ra các ví dụ về các tác phẩm sáng tạo đạt giải tuân theo từng nguyên mẫu cốt truyện. Các tác phẩm này bao gồm từ quảng cáo phim truyền thống cho đến sử dụng các nền tảng tương tác và mạng xã hội (mà chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn trong tuần 3 & 4). Hãy xem từng video và suy nghĩ về lý do tại sao nó hiệu quả cho thương hiệu hoặc sản phẩm đó. Bạn có thể nghĩ ra các ví dụ khác về các tác phẩm theo cùng cốt truyện không?

    6/5/2018

    Trà Giang dịch

    Source: https://www.futurelearn.com/courses/brand-storytelling/2/steps/78020

  • Tại sao tôi ngừng nói “cố lên”?

    Tôi đã nhận được nhiều lời động viên “cố lên” và cũng không ít lần nói với người khác rằng hãy “cố lên”. Nhưng từ vài năm trở lại đây, tôi đã ngừng nói hai chữ đó (hoặc ít nhất là giảm bớt). Lý do tại sao, tôi sẽ giải thích ở dưới đây.

    Là một người trải qua một số chuyện không được dễ chịu lắm trong đời, người khác thường xuyên nói với tôi: “Cố lên”. Từ khi tôi còn rất bé, mãi cho đến tận bây giờ. Cố vượt qua nỗi đau. Cố vượt qua mất mát. Cố gắng làm quen môi trường, thích nghi với người khác. Cố gắng học và làm việc. Cố gắng. Cố gắng. Cố gắng.

    Ban đầu tôi vui vẻ chấp nhận những lời nói đó, coi chúng như động lực. Cố gắng không khóc khi đau buồn, cố vui vẻ nói chuyện với người khác dù không thích, cố học và làm nhiều thật nhiều, cố mở mắt làm việc dù rất buồn ngủ…

    Cho đến khi sức khỏe suy kiệt, tinh thần mệt mỏi, chất lượng học tập, làm việc đều đi xuống, tôi mới cảm thấy có gì đó không ổn ở hai chữ “cố lên”.

    Một mặt, chúng là động lực. Mặt khác, chúng tạo thêm gánh nặng trên vai tôi. Tôi ở trong tình thế bị ép phải làm nhiều hơn sức lực mình có, không có cả thời gian để phục hồi và tái tạo. Tôi làm đến 110, 120% sức lực, nên khi có công việc mới hay có kế hoạch làm gì đó để phát triển bản thân, tôi không còn chỗ trống về thời gian và năng lượng để đầu tư vào đó. Nói một cách hình tượng, tôi đang tự ăn thịt chính mình.

    Tôi rất cảm ơn sếp mình, người đã luôn nói rằng “Em hãy lên kế hoạch làm việc sao cho chỉ dùng 80% sức lực hiện có của em thôi, để khi có việc bất ngờ em còn có khả năng xoay sở được. Nếu em dùng 100%, hay tệ hơn là 110%, em sẽ mau chóng kiệt sức. Công ty cần người làm việc lâu dài, em hãy nhớ điều đó.” Câu nói đó giúp tôi giải tỏa suy nghĩ “Làm việc mà không cố gắng là không có đạo đức nghề nghiệp” đã ăn vào máu lâu nay. Tôi hiểu được rằng, ngay cả khi xem mình là công cụ, thì công cụ đó cũng cần được bảo trì bảo dưỡng thì mới có thể dùng tốt và lâu dài; huống chi tôi còn là một con người, vậy thì tại sao tôi cứ “cố” vắt kiệt sức mình ra như vậy?

    Tôi cũng nhìn nhận lại cách mình động viên người khác “cố lên”. Thực ra khi nói “cố lên”, dường như đó chỉ là một câu xã giao, chứ thực ra tôi chẳng làm được gì cho họ. Tôi còn gián tiếp nói với họ “anh chị cố gắng chưa đủ chăng?”, qua đó đặt thêm cho họ một gánh nặng nữa. Vậy thì tôi có kéo họ lên đâu, tôi đang đẩy họ xuống sâu hơn vào vực thẳm.

    Khi tìm cách không nói “cố lên”, tôi nhận ra mình chẳng cần phải đặt mình vào thế khó của một người phải chịu trách nhiệm đưa cho người kia một lời khuyên, một lời an ủi hay động viên, hay một lời hứa hẹn. Sau khi nghe đối phương nói về điều họ đang gặp phải, tôi hỏi rất thẳng thắn: “Anh/ chị cần gì ở tôi khi nói với tôi điều này?”, qua đó vạch rõ mục tiêu và phạm vi trao đổi. Rất nhiều khi, điều người kia cần chỉ là một “nhẫn thạch” để nghe họ bộc bạch nỗi lòng, chỉ nghe mà không phán xét. Đôi khi họ cần sự định hướng, nếu việc đó trong tầm hiểu biết của tôi, tôi sẽ rất vui lòng đưa cho họ vài công cụ, phương pháp mà tôi biết để họ tham khảo, nhằm tự đưa ra quyết định. Nếu không, tôi chỉ nói đơn giản: “Việc này vượt ngoài tầm hiểu biết của tôi”.

    Tóm lại,

    1. “Cố lên” là cách vắt kiệt sức. Làm vừa đủ thôi, còn chừa khoảng nghỉ để phục hồi và năng lượng để phát triển nữa. BIẾT ĐỦ rất quan trọng.
    2. Nói “cố lên” với người khác là đặt thêm gánh nặng cho họ. VIỆC AI NẤY LÀM, họ không nhờ thì đừng có lon ton mà khuyên với bảo. Nếu họ có nhờ thì giúp trong khả năng của mình, không ai trách mình được khi việc đó quá khả năng của mình.

    Trà Giang, 9/9/2017

  • Làm sao để nói lên được quan điểm riêng của mình?

    Hôm nay mình đọc một bài viết trên trang Ubrand, có tựa là “9 bí quyết để tư duy hợp lý và phát triển quan điểm riêng”. Mình cảm thấy rất thú vị, nên tóm tắt lại một số ý chính sau đây:

    Để tư duy hợp lý và phát triển quan điểm riêng của mình – một đặc điểm rất cần thiết của người làm khoa học, cần nhớ:

    1. Một nghiên cứu có tính khoa học tức là nó có khả năng bị kiểm sai (ý của Karl Popper)
    2. Việc viết lách là chủ quan
    3. Ta có những thành kiến riêng

    Do đó, để tiếp cận những gì mình đang nghiên cứu một cách khách quan, hãy đọc nhiều và đa dạng, luôn đặt những câu hỏi sau:

    1. Động cơ của người viết là gì? Tại sao họ lại muốn mình nghĩ như thế? Thật sự thì lập luận này có ý nghĩa gì?
    2. Căn cứ ở đâu? Ta sẽ phải tự dỡ bỏ bức tường thành kiến của bản thân và của cả tác giả, để nhìn nhận sự thật trần trụi và các chứng cứ đằng sau nó.
    3. Bức tranh lớn hơn là gì? Xem xét ngữ cảnh và từ nhiều góc nhìn.

    Để phát triển khả năng trình bày quan điểm của bản thân, hãy:

    1. Ghi chú. bình luận, gạch dưới. tương tác với tác giả.
    2. Viết. Một câu hỏi, một ý nghĩ. Sắp xếp chúng cho bài luận hoặc blog. Đừng ngại các mâu thuẫn về lập luận.
    3. Thảo luận và tranh luận. Chia sẻ quan điểm, củng cố niềm tin, tiếp nhận những góc nhìn khác.

    Source: https://www.ubrand.global/courses/9-bi-quyet-de-tu-duy-hop-ly-va-phat-trien-quan-diem-rieng

  • The importance of Latin

    Ancient:

    Spoken by the Romans, who conquered a large area in Europe.

    Modern:

    • Spanish, French, Portuguese, Italian, Rumanian are simple modern Latin.
    • Many words in common use in these language come from original Latin form.
    • No influence in Swizerland and Austria but in South America & part of North America.

    English

    Half of English words are derived from Greek & Latin.

    New words

    • Name of inventions
    • Special terms used in chemistry, botany, physics and other scientific studies.

    Law & medicine

    Form of English derivatives from Latin:

    Most of the words derivatives from Latin to English changed in their forms. Their meanings retain the same or nearly the same meaning as in the original Latin.

     

  • Latin – Introductory – Pronunciation – Accent

    Benefits to study Latin

    One of the chief value to be gained from studied Latin is a better knowledge of the English language:

    • a clearer comprehension of grammartical structures
    • enlarged vocabulary & increased accuracy in the use of words

    PRONUNCIATION

    I. Alphabet

    The same as Eng. Except no w.

    II. Vowels: a e i o u & y (1)

    Consonant: the rest

    Roman method of Pronunciation

    III. Short & long vowels

    IV. Consonants

    V. Dipthongs

    VI. Syllables

    VII. Length of syllables

    1. Long: contains a long vowels/dipthong

    2. (regularly) long: its vowel is followed by 2 consonants: con-do, mit-to

    Note: short: 2 consonants consist of a mute (*) followed by or 

    (*) the mutes: b p c k q g d t ph th ch

    3. All others: short

    Note: long: if a vowel followed by x & z

    x & z : double consonant (combination of sounds => have the value of 2 consonants)

    ACCENT

    VIII. The prominence in pronunciation given to a syllable iss called accent. 

    Eg: Accent: the prominence falls on the first syllable.

    Rules for accent in Latin words:

    IX. 1. 2 syllables: accent falls on the first lu’-men

    2) more than 2 syls:

    the syl before the last (penult) if it’s long, 

    otherwise the second before the last (antepenult) 

    Sài Gòn, 7/4/2017

    Comment:

    Khi học tiếng Latin, điều mình phân vân là: Latin đã là tử ngữ, có nhất thiết phải đọc thành tiếng? Tuy nhiên, Wheelock khuyên vẫn nên đọc thành tiếng, mục đích là để tạo cảm giác lên giác quan. Hơn nữa, dù ít dù nhiều, đọc thành tiếng vẫn có nhiều ứng dụng, ví dụ như đọc tên thuốc, tên cây cỏ…

    Về hướng dẫn phát âm, bạn có thể vào đây nhé: http://www.vncreatures.net/all_news/latinread.php