Mùa hè này mình cùng gia đình đi du lịch Krungthep Mahanakhon. Đi cùng là hai đứa em đang tuổi đôi mươi, sự vô tri khủng khiếp của tụi nó khiến mình mắc cười và cũng khiến mình bồi hồi. Mình nhận ra:
Vô tri khiến người ta dám thử và có thêm nhiều trải nghiệm. Mình thì rất sợ tốc độ bàn thờ của Grab Bike và Tuk Tuk của Thái, còn tụi nhỏ thì tranh thủ lúc mình nghỉ mệt thử hết, thậm chí còn rủ nhau đua xem Grab của ai đến nơi sau thì đứa đó phải mua nước cho đứa còn lại. Tụi nó kể với gương mặt hồng lên vì phấn khích! Tụi nhỏ còn mua mì, trứng, coke, tổ chức ăn đêm, khiến người mẹ ngại ăn đêm như mẹ mình cũng hào hứng tham gia. Nếu chỉ có mình, chắc mình không nghĩ tới những hoạt động gắn kết gia đình nho nhỏ vui vui như vậy.
Vô tri khiến tụi nhỏ bị sai đôi khi, nhưng hậu quả không quá tệ như mình tưởng tượng. Tụi nhỏ tự đi tàu điện, xuống trạm sớm, xuống lố trạm… nhưng cuối cùng cũng về nhà bình an. Qua đó mình hiểu được những cách xử lý các tình huống đó trong thiết kế vận hành tàu điện, ví dụ như trả thêm tiền nếu xuống quá trạm, hoặc mua vé lại. Mình cũng thấy tụi nhỏ lanh lẹ, biết hỏi thăm, biết linh động phương tiện di chuyển. Nỗi lo đã nhẹ bớt, nên lần sau chắc sẽ tự tin giao cho tụi nhỏ thêm nhiều việc khác.
Vô tri là điều tụi nhỏ dám làm, dám thử, mà sao ngày xưa mình không dám? Mình cứ tự hỏi hoài câu hỏi đó, và tự nhủ, có lẽ vì tụi nhỏ đã ở vạch đích mà mình mơ ước khi xưa. Khi còn học đại học, nhà còn mang nợ, tiền cơm tiền trọ phải tính từng đồng, mình không dám xuống sai bus, không dám đi xe ôm, nhưng tụi nhỏ có thể. Mình thấy vui vì mình đã ở vị thế tốt hơn, làm chỗ dựa tốt hơn cho tụi nhỏ. Mặt khác, mình cũng học tụi nhỏ một điều, là mình có thể thử và sai, bởi mình có nhiều nguồn lực hơn để làm lại, sửa lại.
Hồi lâu, có người nói với mình rằng “lòng can đảm dẫn ta đi xa”, nhưng nay nhìn hai đứa em, mình muốn bổ sung thêm rằng để bắt đầu chuyến đi xa ấy, có lẽ cần thêm sự “vô tri”, với nghĩa là sự ngây thơ và lòng háo hức dấn thân, như lá The Fool của bộ Tarot. Còn sự can đảm, có lẽ là thứ có được sau khi đã vấp váp và mất mát nhưng vẫn có thể vượt qua và tiếp tục hành trình.
Vậy là kì nghỉ lễ cuối cùng của năm 2024 đã đi qua. Và, mình lại tiếp tục “chiến đấu với tư bản”, kiếm tiền cho cuộc đi chơi tiếp theo.
Chàng trai dựng xe bên bờ suối, lột từng món quần áo trên người, và bước xuống dòng nước, để nước chảy tràn lên thân thể. Nhạc trỗi lên, và màn hình chuyển sang phần credit. Người ta chưng hửng: “Ủa hết rồi hả? Tâm đâu?”
Nếu chỉ nhìn trên bề mặt, bộ phim thiệt quá sức khó hiểu. Người em đi tìm anh về chăm sóc cho đứa cháu mồ côi, chàng trai gặp được tình cũ, nhưng kết phim chẳng việc nào được giải quyết. Nhưng, đây đâu phải là phim bình thường mà đòi hỏi hết phim là mọi nút thắt đều được tháo? Đã gần một tuần trôi qua, mà ngày nào mình cũng ồ à trước những chi tiết bé nhỏ được cài cắm trong phim. Nhằm cung cấp một góc nhìn, mình cũng muốn thử làm tập làm văn coi sao 😀
Sau đây là những biểu tượng đáng chú ý xuất hiện trong phim:
Ngôi nhà và chiếc xe – cái tôi Trong tâm lý học, cả ngôi nhà và chiếc xe đều là biểu tượng của cái tôi. Chiếc xe tượng trưng cho phần lý trí, có thể điều khiển được. Ngôi nhà, trái lại, là cái gì đó vững chắc, cố định, là phần cái tôi được xây dựng từ khi còn bé thơ. Chỉ có những lúc Tâm ôm Đạo ngủ, anh mới được ngủ trong nhà. Những lúc không có Đạo, anh chỉ gặp những ngôi nhà khóa cửa (ngôi nhà ở chỗ sửa xe, ngôi nhà trong vườn gần suối), gió mưa, và anh chỉ có thể ngả lưng trên chiếc xe máy. Thiện cũng không phải có chiếc xe ngay từ đầu, nó là xe được Trung/bên trong cho anh mượn. Chiếc xe – lý trí đó là của một người lớn – cha của Hạnh và Trung để lại, có lẽ ngụ ý lý trí là được ông bà tổ tiên truyền dạy. Chiếc xe không tốt, nhiều lần bị hư hỏng phải sửa. Hiển nhiên, lý trí có phải lúc nào cũng khôn ngoan đâu? Trong cảnh cuối phim, người nông dân đến đánh thức Thiện khỏi giấc ngủ trên xe, và nói “Không có Tâm nào ở đây cả, và “xích cái xe ra để còn mở cửa”. Thiện phải dịch xe ra hai lần, người nông dân cũng nói “xích cái xe ra để mở cửa” đến hai lần. Có phải ngụ ý ở đây là Tâm không ở bên ngoài, anh phải dẹp lý trí của anh xuống, thì mới mở được cánh cửa vào ngôi nhà cái tôi của anh?
Thiện & Thảo – animus & anima, hai mặt của một đồng xu Từ khi Hạnh mất, tuy côi cút nhưng Đạo không bơ vơ. Cậu bé luôn được Thiện bao bọc, rồi sau đó là được gửi cho Thảo. Thiện và Thảo, có lẽ đều ám chỉ đến tấm lòng thiện lương thơm thảo, là lòng tốt bẩm sinh mà mỗi con người được tin là đều có từ khi sinh ra. Khi animus – Thiện hướng tới thế giới bên ngoài, đi tìm kiếm một sự nghiệp, đi tìm “Tâm”, thì anima – Thảo đi tu, gìn giữ “đức tin”, chăm sóc cho Đạo, ở một nơi có tên là “Gia Lành”. Thật ngẫu nhiên, và cũng thật đẹp sao hai chữ “Gia Lành”, nơi có năng lượng nữ tính êm ái, dịu dàng chăm sóc cho cậu bé “Đạo” tội nghiệp. Ở cuối cuộc hành trình tìm Tâm, Thiện gặp một người phụ nữ, cùng một đứa trẻ trong một chiếc sân đầy những chiếc kén vàng. Người phụ nữ nghe chừng là người chăm lo cơm nước cho Tâm, và cô hứa sẽ dẫn anh đi tìm Tâm. Ở đây, chiếc xe – lý trí của anh được nước gột sạch, và anh được dẫn vào một khu vườn um tùm rậm rạp như một khu rừng. Người phụ nữ để anh lại cùng đứa bé, nói là để cô đi tìm Tâm cho. Anh bế đứa trẻ đến bên suối, và nghe tiếng của Đạo văng vẳng: Chú Thiện, chú Thiện. Tại sao lại là đứa trẻ trong kén? Tại sao Thiện lại không tự đi tìm Tâm được mà phải để cho người phụ nữ ấy đi tìm? Tại sao Thiện lại nghe được tiếng của Đạo khi bế đứa trẻ đứng bên suối (sau khi đã bỏ lại chiếc xe)? Với năng lượng animus và lý trí, Thiện không tìm được Tâm. Chiếc xe – lý trí của anh cũng mỏi mệt, rệu rã và đầy bùn đất. Chỉ ở bên “tính nữ”, bên trong “ngôi nhà” – cái tôi tuổi thơ, anh mới có thể gột sạch lý trí, và cũng chỉ có “tính nữ” – người phụ nữ ấy, mới đem đến hi vọng tìm được Tâm. Đứa trẻ được cuốn bên trong chiếc chăn vàng, trông hài hòa một cách tuyệt vời với những chiếc kén vàng trong sân. Trong khi Hạnh một mình chăm lo cho Đạo mà chẳng có Tâm, thì Tâm rút vào rừng sâu, trở nên bất động và vô hình trong mắt người ngoài, bị hiểu lầm một cách trầm trọng nhưng chẳng thể thanh minh. Không ai biết trong chiếc kén vàng kia, con tằm mơ gì. Cũng không ai biết ngoài hành động, thì trong tâm chứa gì. Chỉ có đi cùng người phụ nữ, và đứa trẻ, Thiện mới có thể tìm Tâm. Anh không tìm được “Tâm” bên ngoài, nhưng anh tìm được “tâm” mình, bằng cách bỏ lại chiếc xe – lý trí, bằng cách lột bỏ quần áo – những lớp mặt nạ, và bước xuống nước – để cho vô thức bao bọc mình.
Cụ Lưu và bà cụ ở tiệm sửa xe – Nhà thông thái Cụ Lưu là một nhân vật kỳ lạ. Cụ chăm sóc hậu sự cho Hạnh, nhưng không sống bằng nghề đó. Cụ cho Thiện thấy một thế giới riêng đã từng oanh liệt, nhưng “Khi tôi chết, hãy đốt những thứ này c ùng tôi”. Cụ thể hiện một thái độ sống bình thản trước những điều đang và đã suy tàn. Hạnh đã chết. Chúng ta có thể tiếc thương Hạnh, khâm liệm, đọc kinh, cầu nguyện, nhớ nhung, nhưng nói cho cùng, điều chúng ta có thể làm chỉ là chấp nhận rằng điều đó đã không còn. Bà cụ ở tiệm sửa xe đem đến những câu hỏi và nhận xét thú vị về đời sống hiện tại. Cụ hỏi Thiện rằng sao bây giờ anh mới đi tìm Tâm. Tại sao đến giờ anh mới nghĩ đến việc tìm kiếm một linh hồn. Ta đâu biết thế giới này hôi thúi, bởi ta đã quá quen. Nhưng nếu ta tách mình ra khỏi thế giới này một chút, ta sẽ biết được một góc nhìn khác. Đó là bước “lùi lại” trong triết học, để có được cái nhìn đầy đủ hơn về thế giới. Tóm lại, cụ Lưu và bà cụ ở tiệm sửa xe, một nam và một nữ, cả hai đều là hai nhà thông thái đúng nghĩa.
Nước – vô thức Nước xuất hiện ở nhiều hình thức trong phim. Là nước nhỏ giọt trong những ngôi nhà hoang, nước dâng lên từ dưới sàn trong căn nhà cũ đầy những tấm lưới sắt rách nát. Là màn sương lảng bảng mịt mờ trên đường, trong vườn. Là mưa, mưa rất lớn, đổ xuống đầu nhân vật. Và cuối cùng là nước trong dòng suối mát lành. Nhân vật của chúng ta bị nước dội lên người một cách bị động, nhưng cho đến cuối cùng, anh đã chịu đắm mình vào nước – vào vô thức. Mừng cho anh, cho cái tôi nghe được tiếng gọi, tiếng gà bên trong, tiếng Đạo.
Tiếng chuông, tiếng gà Thảo năm xưa đã gửi chiếc chuông cho Thiện trước khi anh đi lập nghiệp. Khi anh quay về gửi Đạo cho cô, anh cũng gửi lại cho cô chiếc chuông. Trước khi cho Đạo đi ngủ, Thiện cũng cho cháu rung chuông. “Khi rung chuông, một thiên thần sẽ có thêm đôi cánh.” , và tiếng chuông cũng là tiếng động tỉnh thức tâm can. Có tác dụng ngang với tiếng chuông, là tiếng gà gáy. Trung – em Hạnh nuôi nhiều gà, và anh có một con gà mồi chuyên dùng để dụ gà rừng. Con gà mồi cất tiếng gáy, trong rừng vọng lại một tiếng gáy, rồi con gà mồi lại cất tiếng gáy, con gà trong rừng đáp lại một tiếng gáy, cứ như thế suốt một đoạn dài cho đến khi con gà trong rừng bước ra, có một cuộc ẩu đả dữ dội với con gà mồi. Tiếng gà nhà kéo con gà từ trong rừng sâu vô thức ra ánh sáng. Nhưng trước khi con gà rừng bước ra khỏi rừng, cả hai con phải trò chuyện với nhau thật lâu, và khi gặp nhau thì giữa phần “nhà” và phần “rừng” cũng choảng nhau dữ dội. Chỉ khi Trung đến, hai con gà mới thôi cấu xé. Cuộc gặp gỡ giữa phần tối và phần sáng trong mỗi người có lẽ cũng mâu thuẫn như thế.
Một chút suy nghĩ về đức tin Hạnh là hành động, việc làm, là cái thể hiện ra bên ngoài của “đức”. Cái hành động thể hiện ra bên ngoài đã không còn. Chỉ có Thiện bảo bọc cậu, rồi sau này là Thảo – là lòng tốt bẩm sinh trong lòng mỗi người. Hạnh mất một cách đột ngột, được đưa về bên ngôi nhà có đứa em tên Trung. Trung là bên trong, bên trong luôn có tiếng gà gáy – như tiếng gọi của lương tri. Dưới góc độ là một người mẹ, có lẽ Hạnh vẫn còn lẩn khuất đâu đó bên con mình, qua chú bướm bay ngang trong buổi đọc kinh, qua con ruồi đậu trên chiếc đồng hồ buổi tối. Dưới góc độ ẩn dụ, tuy hành động lớn không còn, nhưng những hành động bé nhỏ thì vẫn ở đó. Chú chim sẻ ướt sũng trong đêm mưa được Thiện cưu mang, và được chôn cất cẩn thận. Hạnh cũng được Thiện, Trung, Lưu lo phần hậu sự. Đạo bơ vơ, nhưng được Thiện và Thảo chăm sóc. Ta có thể nghĩ đến là, dù những thực hành liên quan đến tôn giáo như đi nhà thờ, cúng kiếng đang mất đi, nhưng chỉ cần lòng tốt, và cái lòng tốt đó hướng tới việc tìm kiếm cái Tâm, thì không lo Đạo suy tàn.
Nói tóm lại, nếu tách rời nhân vật khỏi các mối quan hệ, chỉ dùng tên, ta có thể tóm tắt phim như một câu chuyện ngụ ngôn như sau:
Đạo là con của Hạnh (hành động) và Tâm (linh hồn). Tâm bỏ đi, Hạnh đã mất, để lại Đạo bơ vơ. Thiện đưa Đạo về nhà “Trung” (bên trong/ở giữa). Hạnh được Lưu (kỉ niệm/ký ức) lo hậu sự. Thiện gửi Đạo cho Thảo để đi tìm Tâm, để Tâm lo cho Đạo. Anh bị hỏi “Sao bây giờ anh mới đi tìm linh hồn/Tâm”? Một người phụ nữ và đứa trẻ dẫn anh đi tìm Tâm. Anh không tìm được Tâm/linh hồn của mình ở bên ngoài, nhưng nghe được tiếng Đạo, và quyết định bỏ lại chiếc xe/lý trí lẫn quần áo/mặt nạ.
Như vậy, mình nghĩ chìa khóa để hiểu được bộ phim này, theo thiển ý của mình:
Chấp nhận rằng đây là một giấc mơ, hoặc một cuộc diễn biến trong nội tâm của nhân vật, chỉ như vậy mới không sốc trước những cảnh chuyển =))
Chú ý đến những nhân vật được đặt tên và ý nghĩa của những cái tên, ai được đặt tên, người đó có ý nghĩa quan trọng trong mạch phim
Những phân đoạn chậm, hãy thử nhắm mắt lại một chút và nghe trong lòng mình, đừng hỏi sắp tới có gì, tại vì hong biết có gì sắp tới đâu, thiệt 😛
Thiệt thà mà nói, phim không dễ coi. Bạn mình nói: quay phim 10 điểm, tiếng động 9 điểm, nội dung không hiểu nên không chấm được. Khi mình coi cũng thấy vài bạn ngủ giữa phim, nhưng mình thì rất mê, có lẽ vì mình đã đọc qua về giải mã giấc mơ và trị liệu biểu tượng nên có thể kết nối được một chút để diễn giải. Dù đúng dù sai, mình vẫn rất thoả mãn khi bóc tách từng chút như vậy ^^
Lý do gì khiến mình đi coi “Bên trong vỏ kén vàng”? Thứ nhất là vì nghe nói nó quay ở Bảo Lộc, nơi mình sinh ra và lớn lên; thứ hai, mẹ mình đã gắn bó cả một đời với những con kén trong ngành công nghiệp ươm tơ dệt lụa nổi tiếng của thành phố này. Nếu đem nguyên xi kì vọng đó mà coi thì sẽ chưng hửng vì 1) phim quay ở Di Linh là chính, 2) kén xuất hiện trong 1 cảnh hà, nhưng mình rất hài lòng để chấm bộ phim 10/10 vì phim cho mình một chuyến du hành về tuổi thơ, với những âm thanh và cảnh quay đẹp đến nhói lòng, và một hệ thống ẩn dụ cực kì phong phú để mình ngẫm nghĩ và trầm trồ mỗi lần kết nối được với một ý tưởng thú zị.
Chiếc xe buýt 146 lướt qua, khiến mình không thể rời mắt và trầm trồ vì trên xe treo quá trời thú bông. Thật dễ thương! Nhưng, dừng lại chút coi, tại sao thú bông lại dễ thương? Thú bông được phổ biến từ khi nào? Nếu bỗng dưng có tiền, mình có hứng mở tiệm bán thú bông, thì mình sẽ kể chuyện gì cho khách nghe?
Trước khi bàn chuyện, mình thống nhất cách hiểu về “thú bông” chút ha. Theo mình, có ít nhất hai cách hiểu chữ “thú bông”. Thứ nhất, thú bông là một món đồ chơi có hình người (còn gọi là búp bê bông), thú, hoặc đồ vật; làm bằng vải, bên trong nhồi bông, vải vụn, rơm, hoặc các loại hạt (hạt nhựa, hạt đậu…). Thứ hai, thú bông có thể đề cập đến loại tiêu bản nhồi (taxidermy), mà bạn có thể thấy trong thảo cầm viên. Ngoài ra thì “thú bông” còn có thể liên tưởng đến “hình nhân” dùng trong bùa chú, cái này thì mình sẽ tìm hiểu và viết trong một bài khác.
Trong bài viết này, mình sẽ chỉ giới hạn trong cách hiểu thứ nhất: một món đồ chơi bằng vải, mềm mại, kích cỡ vừa cầm trong bàn tay, hoặc cùng lắm là bằng một người lớn.
Lược sử về thú bông
Theo Britainica, thú bông được ghi nhận là đồ chơi cho trẻ em từ xa xưa, có thể bắt nguồn từ những con búp bê hay con thú bằng giẻ hoặc rơm, gỗ, kim loại. Như các loại đồ chơi khác, thú bông thường được tự làm tại nhà, bằng cách khâu ghép các mảnh vải hoặc móc (amigurumi). Tuy nhiên, thú bông chỉ trở nên phổ biến từ cuối thế kỉ 19, khi gấu teddy được sáng tạo gần như đồng thời bởi các nhà làm đồ chơi là Morris Michtom (Mỹ) và Richard Steiff và cô mình là Margarete Steiff (Đức).
Morris Michton (1870-1937) và vợ là sáng tạo ra Teddy Bear theo một sự kiện liên quan đến tổng thống Rooselvelt (biệt danh của tổng thống là Teddy – mặc dù ổng hổng ưa cái biệt danh này). Chuyện là, tổng thống được mời tới một buổi đi săn vào tháng 11/1902 và từ chối bắn một chú gấu con. Chuyện này trở thành đề tài bàn tán xôn xao dư luận, Clifford Berryman vẽ lại trong bức ảnh này, đăng trên tờ Washington Post, ngày 16/11/1902.
This political cartoon by Clifford Berryman’s depicts President Theodore Roosevelt’s bear hunting trip to Mississippi. The cartoon gave the ‘Teddy’ Bear it’s name. It was published in the Washington Post in 1902. Download from Wikipedia.
Michton đã làm một chú gấu nhồi bông đặt trong cửa hàng kẹo của mình ở Brooklyn, với tấm biển “Teddy’s bear” và đồng thời gửi một phiên bản đến cho tổng thống để xin được sử dụng cái tên Teddy. Tổng thống đồng ý! (dễ thương phết). Năm 1903, hai vợ chồng thành lập Ideal Novelty and Toy Company. Công ty ăn nên làm ra, đến 1971 đã trở thành một trong ba công ty đồ chơi hàng đầu của Mỹ. Hiện công ty đã bị mua lại và đang thuộc về tập đoàn Mattel.
Trong khi đó, tại Đức vào năm 1902, Richard Steiff (1877-1939) (cháu của Margaret Steiff (1847-1909), người sáng lập công ty Steiff) sáng tạo ra phiên bản “Bear 55 PB”, với vải là loại phủ lông dùng trong nội thất, phần tay và chân có thể chuyển động được. (Còn tại sao ổng tìm ra loại vải đó để may thú bông hả, ổng học School of Applied Arts ở Stuttgart với Anh đó). Chú gấu này được bán ở hội chợ Leipzig Toy Fair và bắt đầu chinh phục thế giới. Một thương nhân người Mỹ đặt một đơn hàng “Steiff’s bear” lớn và đến 1906 thì “Steiff’s bear” được biết đến rộng rãi là “Teddy’s bear” (hơi nhập nhằng há!). Nhiều công ty đồ chơi khác cũng bắt đầu sản xuất gấu bông.
Cũng phải nói thêm, Bear 55 PB không phải là “thú bông” đầu tiên được nhà Steiff sản xuất, mà là một chú voi do Margaret thiết kế, ban đầu được bán ra để làm gối cắm kim, nhưng nhanh chóng trở thành một món đồ chơi cho trẻ em (cũng phải ha, mình thường đâu biết khách hàng có sử dụng đúng mục đích ban đầu mà mình thiết kế hay không). Steiff Company vẫn hoạt động cho đến ngày nay, và thú bông nhà Steiff là một vật phẩm được các nhà sưu tầm thú bông săn đón. Gấu Teddy được mặc quần áo theo các ngành nghề khác nhau, làm vật trưng bày cho hội chợ, quà lưu niệm… Trong hai cuộc chiến tranh thế giới thì ngành công nghiệp sản xuất đồ chơi nói chung và thú bông nói riêng cũng chịu ảnh hưởng theo. Nhà Steiff trước việc thiếu nguyên liệu đã có lúc phải sản xuất “paper teddy bear” làm từ gỗ nội địa. Sau 1975, trước nhu cầu bùng nổ của thế hệ Baby Boomer, thú bông nhanh chóng trở lại.
Các nhân vật trong sách, truyện, phim, phim hoạt hình… có phiên bản thú bông từ khi nào nhỉ? Mình thấy có hai dấu mốc đáng chú ý. Thứ nhất, vào năm 1903, thú bông tạo hình thỏ Peter Rabbit (nhân vật trong cuốn truyện cùng tên của nhà văn Beatrix Potter) là thú bông đầu tiên được cấp bằng sáng chế. Thứ hai, vào năm 1931, Steiff hợp tác với Disney để làm phiên bản thú bông cho các nhân vật của nhà Chuột, mối quan hệ hợp tác vẫn duy trì cho đến ngày nay.
Chuyện bên phương Tây là vậy, còn phương Đông thì sao? Nhật Bản nổi tiếng với amigurumi – nghệ thuật móc thú bông, và những bạn thú bông theo phong cách “kawaii” (dễ thương). Thú bông ở Nhật cực kì đa dạng, bắt nguồn từ truyện tranh và phim hoạt hình. Ở Việt Nam hẳn đã quá quen thuộc với Hello Kitty, Rikklakuma, Sumikko Gurashi, Pokemon, Doraemon… Không có tài liệu chính xác nhưng một số tài liệu mình đọc được trên mạng ghi nhận thú bông phong cách kawaii phổ biến từ những năm 1990.
Hàn Quốc, theo mình quan sát thì có vẻ không có hệ thống nhân vật thú bông đa dạng như Nhật Bản. Các nhóm nhạc, các thần tượng cũng có phiên bản nhồi bông. Một số bộ phim như “Hoàng Cung” (2006) góp phần làm cho “gấu bông” nóng trở lại trong nhóm các bạn tuổi teen. Chú bò chăm chỉ trong “Thư ký Kim làm sao thế” (2018) cũng trở thành vật phẩm được săn đón một thời gian.
Ở Việt Nam, rất tiếc mình không tìm thấy nhân vật thú bông nào đáng kể, mặc dù gần như con đường nào cũng có cửa hàng bán thú bông, từ những sạp hàng trên vỉa hè, trong nhà sách, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, đến những cửa hàng chuyên bán thú bông sang trọng. Thú bông ở Việt Nam, ngoài những nhân vật nổi tiếng như đã kể trên, đa phần là những nhân vật không tên. Mình nghe một người anh nói rằng trước 1975 từng có một công ty ở Sài Gòn làm búp bê bông rất đẹp, chuyên xuất khẩu, nhưng giờ không còn nữa. Nhóm 9X tụi mình quen với những chú gấu nhồi vải vụn, ghép cũng từ vải vụn, những chú sâu gắn mắt nhựa, sọc vàng xanh, vàng đỏ làm gối ôm, sau này xuất hiện thêm cá sấu, bé ciu, ly trà sữa… Thú bông khi mình còn nhỏ là một món đồ xa xỉ mà chỉ có con nhà giàu mới có được, và mình vẫn còn nhớ mình từng nhìn tủ thú bông đầy ắp ở nhà cô bạn cùng lớp đầy thèm khát. Mình nhìn thấy sự khao khát đó trong những chuyến đi từ thiện sau này, người chị dẫn mình đi cũng rất tâm lý, trong giỏ quà của chị gần như lúc nào cũng có thú bông để tặng các em nhỏ.
Thú bông trong đời sống và trong trị liệu
Nếu nói đến quà tặng cho em bé? Thú bông xếp đầu bảng, bên cạnh ô tô, bộ lắp ghép, búp bê. Nếu nói đến quà lưu niệm khi đến một quốc gia, hay hội nghị? Thú bông cũng là lựa chọn phổ biến, bên cạnh postcard, đặc sản…
Thú bông, một món đồ chơi mềm mại, đáng yêu, gần gũi với chúng ta từ thuở ấu thơ. Thú bông giúp an ủi, giảm lo âu, căng thẳng, được các chuyên gia tâm lý khuyến khích sử dụng trong những ca khủng hoảng lo âu, xa cách, hay các vấn đề liên quan đến lòng tự tôn.
Với chừng đó công dụng, và với sự phổ biến như bây giờ, mình nghĩ ngành công nghiệp đồ chơi và thú bông có lẽ còn sống được lâu lâu. Mình cũng có nhiều thú bông, và khó mà kiềm chế cái sự thèm thuồng khi đi qua Miniso :))
Bảo tàng thú bông
Dưới đây là danh sách một số bảo tàng thú bông, để bạn có thể ghé thăm nếu có dịp
Tóm lại thì, từ một chuyến xe buýt chở đầy thú bông ở Gò Vấp, mình đã đi qua Mẽo, qua Đức, qua Nhựt, rồi trở lại Việt Nam. Tạm hài lòng chút đỉnh với những gì mình tìm được, và quay lại ôm gấu nhà thôi :))
Đối với quà tặng, vỏ bọc của món quà (cái hộp) lắm khi còn quan trọng hơn cả nội dung món quà, bởi nó đóng phần lớn trong việc thể hiện thành ý của người tặng. Tôi tặng anh một món quà được bao gói cẩn thận đẹp đẽ, ấy chính là thể hiện tôi dành thời gian chăm chút cho món quà, mà thời gian thì quý, nên tôi dành thời gian cho món quà tặng anh đồng nghĩa với việc tôi trân trọng anh. Nó cũng giúp người nhận tránh được định kiến ban đầu khó xử về nội dung món quà, nhìn cái bao gói chỉn chu tôi cũng cảm thấy mình được anh trân trọng, tôi có được cái sự háo hức và hồi hộp khi mở quà. Người Nhật còn có hẳn một văn hóa gói bọc Tsutsumu, với nào là gói bằng giấy, khăn, chọn màu rồi lại thắt nơ (https://kilala.vn/phong-cach-song/van-hoa-qua-tang-nhat-ban-vi-sao-tinh-te.html).
Dài dòng thế, nhưng mà, bạn đã bao giờ:
loay hoay với một đống giấy gói, băng keo, kéo, mà hộp quà vẫn xộc xệch nhăn nhúm ngược xuôi?
đi ra tiệm mua cái hộp cho nhanh thì không có hộp nào vừa vặn, nên đành nhét một đống giấy vào nhìn cho đỡ trống?
Cứu tinh là đây: https://www.templatemaker.nl/en/
Bạn chỉ cần:
ước lượng kích thước của món quà mình cần
chọn mẫu, nhập kích thước (có cả đơn vị cm, mm, inch)
chọn loại file cần in, kích thước giấy in
In, cắt, dán
Ngoài chuyện làm hộp quà, các mẫu ở đây còn có thể dùng làm dụng cụ học tập, đồ trang trí, phong bì… được nữa đó.
Chân thành cảm ơn Maarten van der Velde vì ý tưởng xuất sắc này. Đã 4 năm rồi kể từ ngày mình thấy trang này, vẫn vẹn nguyên cảm giác sung sướng khi có một sản phẩm đánh trúng nhu cầu đến thế.
Năm học mới đã bắt đầu trong khu rừng, nhưng Gấu mèo Chester không muốn đi học. Để xoa dịu nỗi sợ của Chester, Mẹ Gấu Mèo chia sẻ với cậu một bí mật của gia đình được gọi là Bàn tay hôn, để đảm bảo với cậu rằng tình yêu của bà sẽ luôn luôn có mặt bất kì khi nào thế giới của cậu trở nên đáng sợ.
Bé Gấu mèo Chester đứng bìa rừng và khóc với mẹ: “Mẹ ơi, con không muốn đi học. Con muốn ở nhà với mẹ. Con muốn chơi với bạn của con, chơi đồ chơi của con, đọc sách của con, chơi xích đu của con cơ. Mẹ ơi, mẹ cho con ở nhà với mẹ đi mà”.
Mẹ Gấu mèo cầm tay Chester lên và hôn lên tai bé. Bà nói thật dịu dàng:
“Con yêu à, đôi khi ta phải làm điều ta không muốn làm. Ngay cả khi điều đó lúc đầu có vẻ lạ lẫm và đáng sợ. Nhưng con sẽ thích trường học sớm thôi.
Con sẽ làm quen với bạn mới, chơi đồ chơi mới, đọc những quyển sách mới, chơi xích đu mới.
“Thêm vào đó”, mẹ Gấu mèo nói tiếp
“Mẹ có một bí mật tuyệt vời, có thể khiến những đêm của con ở trường cũng ấm áp và đầm ấm như ngày của con ở nhà.”
Chester lau nước mắt và nhìn mẹ đầy háo hức:
“Một bí mật ạ? Bí mật gì thế mẹ?”
Mẹ Gấu mèo nói:
“Một bí mật rất cổ xưa. Mẹ được nghe từ mẹ của mẹ, và bà thì lại được nghe từ mẹ của bà. Nó được gọi là “bàn tay hôn”.”
“Bàn tay hôn? Cái gì thế hả mẹ?”
“Để mẹ chỉ cho con xem nhé” – Mẹ Gấu mèo đáp. Rồi bà cầm lấy tay trái của Chester và xòe những ngón tay nhỏ ra, cúi mình đặt vào lòng bàn tay cậu một nụ hôn.
Chester cảm thấy nụ hôn của mẹ lan tỏa từ bàn tay lên tới cánh tay, rồi lan đến tận trái tim. Thậm chí cả bộ lông xám và đen của cậu cũng râm ran với cảm giác ấm áp lạ kì.
Mẹ Gấu mèo mỉm cười. Bà nói với Chester:
“Từ giờ, bất cứ khi nào con cảm thấy cô đơn và cần một chút tình yêu từ gia đình, hãy áp tay lên má và nghĩ: “Mẹ yêu con”, và nụ hôn của mẹ sẽ chạm lên khuôn mặt của con, bao bọc con với suy nghĩ ấm áp đó.
Bà nắm lấy tay Chester và xếp những ngón tay của cậu gói lấy nụ hôn của bà. Bà nói đùa:
“Nào, bây giờ thì cẩn thận đừng làm mất nó nhé.
Nhưng đừng lo, khi con mở tay ra để rửa thức ăn, nụ hôn của mẹ vẫn còn ở đó. Mẹ đảm bảo đấy”.
Chester yêu bàn tay hôn của mình quá. Giờ đây cậu đã biết tình yêu của mẹ sẽ theo cậu đi bất cứ đâu, thậm chí cả khi đến trường.
Đêm đó, cậu đứng trước cổng trường và suy nghĩ trầm tư.
Bất chợt, cậu quay sang mẹ và cười:
“Mẹ ơi, mẹ đưa tay cho con đi.”
Chester đặt tay mẹ lên tay mình, và xòe bàn tay to thân thuộc ấy ra. Rồi cậu cúi mình, đặt vào lòng bàn tay mẹ một nụ hôn.