Category: doing

  • Lời mào đầu khi hỏi về tính khả dụng (Usability Testing) để nhận được phản hồi chân thành

    Câu giới thiệu thảo mai thường thấy trong các buổi kiểm tra tính khả dụng mà tôi (tác giả) gặp quài quài khi đi ngâm cứu về tính khả dụng:

    “Please give your open and honest feedback. I didn’t design this so don’t feel like you need to sugarcoat anything. You won’t hurt my feelings.”

    (Mong bạn phản hồi cởi mở và chân thành. Tôi không thiết kế những thứ này, nên bạn không cần phải thảo mai về điều gì cả. Bạn không làm tôi thấy tổn thương đâu.)

    Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra ở đây: liệu việc tách bạch là tôi không liên quan tới thiết kế đó, dù là nói thật hay không, có phải là cách tốt nhất để khuyến khích những người tham gia đưa ra những phản hồi cởi mở và chân thành?

    Tôi đã tiến hành vài ngâm cứu và tìm ra vài thứ sau:

    Đóng khung vấn đề

    Mấy dòng giới thiệu đầu buổi test không nhằm nhò gì mấy để khuyến khích người dùng đưa ra phản hồi cởi mở hết. Với đa số bà con, đưa phản hồi chả thoải mái gì cho dù ở trường hợp lý tưởng đến thế nào, chưa kể là đưa cho thằng cha ất ơ mới gặp nào đó nữa chớ. Nhưng sự thật không bị che giấu là thứ sống còn cho thành công của dự án của khách hàng!

    Khách hàng không trả tiền để xác nhận mấy thứ họ làm tốt rồi. Họ muốn thấy mấy lỗi chủ quan (human error), nghe ý kiến thực tế về thứ đang không hoạt động trước khi quăng người vô dự án làm. Nhưng, trong môi trường phòng lab, đối diện với cái gương hai chiều, bản năng con người trỗi dậy và người ta có xu hướng làm hài lòng.

    Trong thí nghiệm của tôi, mấy câu giới thiệu mẫu mực ngăn cản sự cởi mở và chân thành mà đáng lẽ mấy câu này nên khơi gợi ra. Khi tôi nhắc người tham gia nhớ là một người đã dành thời gian, công sức vào thiết kế này để khiến họ buồn lòng, tôi đang mồi để đo lường phản hồi của họ.

    Họ vẫn e dè nói thẳng, thường rào đón câu trả lời của mình để giảm nhẹ tầm ảnh hưởng (ví dụ: Có lẽ chỉ có mình tôi thôi, nhưng…). Điều này dẫn đến những phản hồi không hiệu quả làm mờ và giảm thiểu ảnh hưởng của vấn đề thiết kế lên user.

    Thí nghiệm

    Tôi tiến hành thử nghiệm này trên 10 buổi kiểm tra tính khả dụng trên một prototype trên InVision mà tôi đã thiết kế. Khách hàng duyệt cho sự thay đổi trên kịch bản. Các phiên kéo dài một giờ tại phòng nghiên cứu tính khả dụng của LiquidHub. Không có khách hàng ở phòng quan sát.

    Những thay đổi và thành công của chúng

    Tôi thử vài thay đổi trên câu giới thiệu, Nếu thành công, câu mới sẽ khơi gợi người tham gia đưa ra phản hồi trung thực mà không suy tính ý kiến của họ với nỗi sợ đề phòng.

    Câu này không đem đến tác dụng tốt:

    “We’re going to look at a prototype that I designed. I put time and energy into coming up with ideas, but I need your feedback to make it the best version it can be.”

    “Chúng ta sẽ xem một prototype mà tôi đã thiết kế. Tôi đã dành thời gian và công thức để đưa ra những ý tưởng này, nhưng tôi cần phản hồi của bạn để biến nó thành phiên bản tốt nhất có thể.”

    Câu này không hiệu quả vì nó đặt áp lực không hợp lý lên người tham gia để giúp tôi hoàn thành công việc. Với lại, việc định hình tôi là một người thiết kế thuần túy, thiết lập một phong thái đối kháng (ví dụ: ý kiến của bạn và ý tưởng của tôi).

    Đây là phiên bản có tác dụng tốt nhất:

    usability-testing_quote

    “My job is to help the client make this as amazing as possible. We’ve had some ideas already. And when we brainstormed, we put all our ideas in the design without judgement. You will help me figure out which ideas are great, which are duds, and come up with new ideas we didn’t think of.”

    “Công việc của tôi là giúp khách hàng biến thứ này thành thứ tốt nhất có thể. Chúng tôi đã có một vài ý tưởng. Và khi chúng tôi động não, chúng tôi đã đưa ra tất cả những ý kiến này vào thiết kế mà không có suy xét gì cả. Bạn sẽ giúp chúng tôi chỉ ra những ý tưởng nào là tốt, tồi, và đưa ra những ý tưởng mới mà chúng tôi chưa từng nghĩ đến.”

    Tại sao câu mới này lại có tác dụng?

    Tôi đã học được rằng dòng mới này thay đổi cách người tham gia tiếp cận toàn bộ tương tác trong bài kiểm tra tính khả dụng. Với câu mới, những người tham gia bắt đầu hành động như một đối tác thiết kế, áp dụng tư duy giải quyết vấn đề thay vì chỉ phản ứng với thiết kế như một sự kích thích.

    Những người tham gia đã thoải mái hơn khi dẫn dắt cuộc thảo luận về các lĩnh vực mà họ quan tâm, dẫn đến những cuộc trò chuyện ngoài hướng dẫn nhiều hơn (nghĩa là, cuộc trò chuyện khác với cuộc thảo luận đã được lên kế hoạch). Những khu vực này đã chín muồi với những hiểu biết sâu sắc.

    Câu mới cũng hiệu quả vì mọi người tin tưởng hơn vào ý kiến ​​của họ. Họ liên tưởng việc cho ý kiến với việc họ đang có ích, không bị phán xét.

    Nó không làm cho họ hoàn toàn quên rằng có thể có những người quan sát đằng sau tấm gương, nhưng nó đã cho họ một mục đích rõ ràng và sự hiểu biết về cách đáp ứng sự mong đợi của chúng ta. Nói tóm lại, nó khai thác bản năng con người để làm hài lòng mọi người theo cách có lợi cho dự án.

    Kết luận

    Kết quả thử nghiệm của tôi khiến tôi tò mò muốn thử nghiệm các “quy tắc” kiểm tra tính khả dụng được chấp nhận rộng rãi khác. Ví dụ, trong phòng thí nghiệm, chúng tôi được hướng dẫn để tiến hành trên các nhân vật (persona) trung lập, có thể đo lường được để chúng tôi không ảnh hưởng lên người tham gia bằng những khẳng định bằng lời hoặc không lời.

    Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta phá vỡ quy tắc đó? Liệu việc này có “định hướng nhân chứng”, như chúng ta đã được cảnh báo, hay chúng sẽ giúp ta xây dựng mối quan hệ? Ta có thể làm gì để phá vỡ vỏ bọc của người tham gia nhanh hơn để có được những phản hồi trung thực và cởi mở?

    Tôi khuyến khích các nhà nghiên cứu và nhà thiết kế tham gia cùng tôi trong cuộc thám hiểm này. Miễn là thử nghiệm được thực hiện với sự tôn trọng người dùng và phục vụ các mục tiêu của khách hàng, chúng ta nên tuân theo quy trình của riêng mình để lặp lại, xác thực và kiểm tra.

    Nói cho cùng, chúng ta là các chuyên gia cải tiến quy trình. Nếu chúng ta không hướng các phương thức của mình về phía chính bản thân mình thì chúng ta đang bỏ lỡ cơ hội để phát triển.

    The Line to Say in Usability Testing to Get Honest Feedback

    Dịch: Trà Giang

     

     

  • UX – Nút Cancel – Tại sao không nên có màu

    Lỗi thường gặp: nút Cancel có màu

    Bài này giải thích công dụng của nút Cancel, và tại sao không nên dùng màu cho nút này.

    cancel_button-non_action.png

    Nút Cancel thường xuất hiện ở những màn hình cần sự xác nhận

    Nút Cancel hay còn có những tên khác như “Not Now”, “No Thanks”, “Maybe Later”, or “Skip” tùy ngữ cảnh. Tuy nhiên, chúng có chung một tác dụng: bỏ qua (dismiss) màn hình hiện tại mà người dùng đang sử dụng, đưa người dùng về màn hình trước đó. Nút Cancel đóng vai trò như một cái phao cứu sinh để không tạo ra những thay đổi không mong muốn trên hệ thống.

    Do đó, nút Cancel nên tạo cảm giác an toàn cho người dùng, bằng cách thể hiện sự dự phòng an toàn (a fallback to safety), chứ không phải là một lời kêu gọi hành động (a call to action).

    Phân biệt nút Cancel và những loại nút khác:

    • Normal button: khi nhấn vào sẽ tạo ra thay đổi trên hệ thống. Dấu hiệu thể hiện điều này là màu trên button.
    • Cancel button: khi nhấn vào không tạo ra thay đổi trên hệ thống. Do đó, nếu dùng dùng màu, người dùng sẽ bối rối: “nhấn vô cái nút này có thay đổi data gì không ta”. Thay vào đó, ấn tượng đúng cần được tạo ra ở đây là “yên tâm, nhấn vô đây, không có thay đổi gì đâu”.cancel_button-non_action

    Đối với nút button, nên:

    • Dùng màu trung tính, để phân biệt với các nút CTA khác. Càng nhiều nút thì màu trung tính này phải đủ nổi bật để người dùng nhận diện nhanh hơn. Đối với người lỡ bấm nhầm và cần thoát ra nhanh thì màu xám này giúp họ nhận ra ngay để nhấn vào. Đối với những người sẵn sàng hành động thì màu xám này giúp họ bỏ qua nó, tập trung vào các nút CTA.
    • Dùng màu xám đủ tối, để dễ đọc và không bị nhầm với trạng thái disable. Để đảm bảo dễ đọc thì nên kiểm tra độ tương phản bằng một công cụ WCAG 2.0 contrast ratio chẳng hạn như Contrast Checker. Công cụ này giúp chỉ ra màu xám đang dùng có đạt chuẩn màu dễ đọc không.cancel_button-gray

     

    cancel_button-gray

    Tóm lại: hãy trung lập (neutralize) nút Cancel

    Đa số trường hợp người dùng kích hoạt màn hình xác nhận, họ đã sẵn sàng hành động. Tuy nhiên khi họ bấm nhầm và không muốn làm hành động đó, nút Cancel cần đưa cho họ sự an toàn.

    Một nút Cancel có màu đem đến tín hiệu sai. Nó khiến người dùng xem nó là một lời kêu gọi hành động thay vì một sự rút lui an toàn. Hãy trung lập nút Cancel để người dùng có cảm giác họ kiểm soát tốt hơn và tự do hơn khi sử dụng ứng dụng.

    Nguồn: https://uxmovement.com/buttons/why-cancel-buttons-should-never-have-a-color/

    Lược dịch, phóng tác, sắp xếp, chém gió: Giang Nguyễn

     

  • Hai câu hỏi giúp bạn trở nên thành công

    Michael Phelps và Winston Churchill xuất hiện ở phần đầu cuốn sách của Eric Barker, “Barking Up the Wrong Tree“. Barker xem họ là những ví dụ điển hình cho những người đã thành công VÌ những điểm lập dị của họ, chứ không phải thành công MẶC CHO những điểm lập dị của họ.

     

    Phelps có dạng cơ thể khác thường; Churchill là một “khẩu đại bác hoang tưởng luôn sẵn sàng khai hỏa.” Nhưng cả hai đều tìm thấy một ngách hẹp nơi những điều kì quặc đó trở nên hữu ích thay vì có hại, và kết quả là đưa họ lên vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực của mình.

     

    Đó là một quá trình mà bất cứ ai cũng có thể bắt chước (dĩ nhiên không đảm bảo rằng bạn sẽ nổi danh toàn cầu).

     

    Barker nói chuyện với giáo sư Trường Kinh doanh Harvard Gautam Mukunda và Mukunda đã tóm gọn nó thành hai bước, dựa trên Lý thuyết lọc lãnh đạo (Leadership Filtration Theory) mà ông đã phát triển:

     

    1. Biết chính mình. Bạn có thể tự hỏi mình: “Điểm mạnh mang tính dấu ấn của tôi là gì?”. Đó là những kỹ năng bạn đặc biệt giỏi.

     

    1. Chọn đúng cái ao của mình. Barker khuyên bạn nên tự hỏi: “Công ty, tổ chức và tình huống nào sẽ đánh giá cao những gì tôi làm?”

     

    Barker đã chia hai bước này nhỏ hơn trong cuộc phỏng vấn với giáo sư Wharton Friedon Stew Friedman trên Work and Life podcast. Ông giải thích rằng một số đặc điểm nhân cách có thể phản tác dụng trong hầu hết các tình huống, và do đó được xem là những phẩm chất tiêu cực nói chung.

     

    Lấy sự bướng bỉnh làm ví dụ. Dưới đây là lời của Barker:

     

    “Trong một công ty theo hệ thống thang bậc chuẩn mực như của bạn, sự bướng bỉnh không tích cực. … Nhưng khi chúng ta nói về các doanh nhân, chúng ta luôn nói về “gan góc, bám chặt lấy mục tiêu, không thừa nhận thất bại.’ Và điều đó là gì? Vâng, trong nhiều trường hợp, đó là sự bướng bỉnh. Có nhiều tính cách nhìn chung là tiêu cực, nhưng ở đúng hoàn cảnh, chúng có thể trở nên tích cực. ”

     

    Barker tiếp tục: “Đó là một yếu tố quan trọng khác của công thức nhắm đến thành công”. Đó là, bạn phải biết những gì bạn làm tốt và môi trường làm việc sẽ cho phép bạn làm điều đó.

     

    Đối với Phelps, có một dạng cơ thể hơi kì cục khiến anh trở thành một vận động viên và vũ công khá tệ – nhưng nó cũng khiến anh trở thành một vận động viên bơi lội tuyệt vời. Đối với Churchill, bị hoang tưởng có nghĩa là ông đã từng bị “xem là không phù hợp với các cơ quan đứng đầu” – nhưng cũng có nghĩa là ông nhận ra Hitler là mối đe dọa cho thế giới.

     

    Điểm mấu chốt là bạn sẽ phải xem xét nội tâm nghiêm túc: Bạn có phải là người phá quy tắc không? Người theo quy tắc? Đâu đó ở giữa? Và sau đó bạn sẽ phải trung thực với chính mình về môi trường nào bạn thích hợp nhất. Có lẽ nó không phải là thế giới của các công ty; cũng có thể không phải là công ty của bạn.

     

    Có thể bạn sẽ phải thử và thậm chí thất bại, nhưng về lâu dài bạn sẽ có vị trí tốt hơn để thành công.

     

    Giang Nguyễn, Sep 8 2018

    Source: Word Economics Forum, Two questions to help you become more successful in life, according to a Harvard professor

  • Làm sao để nói lên được quan điểm riêng của mình?

    Hôm nay mình đọc một bài viết trên trang Ubrand, có tựa là “9 bí quyết để tư duy hợp lý và phát triển quan điểm riêng”. Mình cảm thấy rất thú vị, nên tóm tắt lại một số ý chính sau đây:

    Để tư duy hợp lý và phát triển quan điểm riêng của mình – một đặc điểm rất cần thiết của người làm khoa học, cần nhớ:

    1. Một nghiên cứu có tính khoa học tức là nó có khả năng bị kiểm sai (ý của Karl Popper)
    2. Việc viết lách là chủ quan
    3. Ta có những thành kiến riêng

    Do đó, để tiếp cận những gì mình đang nghiên cứu một cách khách quan, hãy đọc nhiều và đa dạng, luôn đặt những câu hỏi sau:

    1. Động cơ của người viết là gì? Tại sao họ lại muốn mình nghĩ như thế? Thật sự thì lập luận này có ý nghĩa gì?
    2. Căn cứ ở đâu? Ta sẽ phải tự dỡ bỏ bức tường thành kiến của bản thân và của cả tác giả, để nhìn nhận sự thật trần trụi và các chứng cứ đằng sau nó.
    3. Bức tranh lớn hơn là gì? Xem xét ngữ cảnh và từ nhiều góc nhìn.

    Để phát triển khả năng trình bày quan điểm của bản thân, hãy:

    1. Ghi chú. bình luận, gạch dưới. tương tác với tác giả.
    2. Viết. Một câu hỏi, một ý nghĩ. Sắp xếp chúng cho bài luận hoặc blog. Đừng ngại các mâu thuẫn về lập luận.
    3. Thảo luận và tranh luận. Chia sẻ quan điểm, củng cố niềm tin, tiếp nhận những góc nhìn khác.

    Source: https://www.ubrand.global/courses/9-bi-quyet-de-tu-duy-hop-ly-va-phat-trien-quan-diem-rieng

  • Phân loại sách – Hệ thống phân loại DDC (Dewey Decimal Classification)

    Trong lúc sắp xếp lại các thư mục trong máy tính, tui phát điên khi sắp xếp đống ebook của mình, nên đã google từ khóa “hệ thống phân loại sách”, và, trời ơi, may mắn làm sao, nó dẫn đến hệ thống phân loại DDC chuyên dùng cho thư viện.
    Về lý thuyết: 
    DDC (Dewey Decimal Classification) là một hệ thống phân loại được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực thông tin thư viện trên toàn thế giới. Hiện nay có hơn 200.000 thư viện của 135 nước đang sử dụng hệ thống phân loại này.
    Nguyên tắc thập tiến:
    DDC thể hiện nghệ thuật sử dụng 10 chữ số từ 0 đến 9 để phân chia mỗi khái niệm ra tối đa 10 khái niệm con phụ thuộc (cấp dưới), và đến lượt mình mỗi khái niệm con lại được tiếp tục chia ra 10 khái niệm ở bậc nhỏ hơn…Hiện nay DDC có 1000 lớp phụ.
    Sắp xếp của DDC:
    Các lĩnh vực khoa học đều được sắp xếp từ chung đến riêng, từ toàn thể đến bộ phận. Cơ sở sắp xếp là bộ môn khoa học, lĩnh vực khoa học, do vậy một chủ đề có thể xuất hiện tản mạn ở nhiều ngành khoa học khác nhau.
    Bảng chính của DDC:
    DDC có 10 lớp cơ bản thể hiện như sau:
    000 Những vấn đề chung (Tổng loại)
    100 Triết học và Tâm lý học
    200 Tôn giáo
    300 Khoa học Xã hội
    400 Ngôn ngữ
    500 Khoa học Tự nhiên
    600 Khoa học Ứng dụng (Công nghệ )
    700 Nghệ thuật
    800 Văn học và Tu từ học
    900 Địa lý và Lịch sử
    Dưới đây là bảng lĩnh vực – chủ đề:
    Tiếng Anh:
     
    Về cách ứng dụng hệ thống DDC để phân loại sách: 
    Nguyên tắc cơ bản:
    – Dồn tất cả ebook đang có về một chỗ.
    – Chọn những quyển đặc biệt cần thiết. Còn lại xóa hết.
    – Phân loại.
    Mình tạo folder BOOKS, sau đó tạo 10 folder con theo bảng chính của DDC, và 1 file DDC.doc để ở ngoài cho tiện tra cứu.

    Sau đó, khi vào từng folder, tùy vào những lĩnh vực mình đang quan tâm mà mình sẽ search lĩnh vực đó trong file DDC.doc và tạo folder tương ứng.

    Capture
    Nhận xét:
    – Áp dụng hệ thống số, bao quát được nhiều lĩnh vực (1000 lĩnh vực)
    – Được ứng dụng rộng rãi
    – Khá phức tạp và còn trùng lắp. Chỉ phù hợp với Non-fiction, còn Fiction thì cách phân loại khá sơ sài.
    Rút kinh nghiệm:
    – Đặt tên file sách một cách thống nhất: Title – Tác giả hoặc Tác giả – Title để tiện search trong ô tìm kiếm.
    – Khi phân loại, hãy cứ phân từ từ. Một đống thành 10 thư mục, rồi vào từng thư mục tạo tiếp 10 thư mục con, phân loại tiếp. Đừng ham chia thành 100, 1000 thư mục. Rối chắc luôn.
    – Đối với fiction, cần tự tạo hệ thống thư mục con riêng.
  • “CHẤP”

    Ai đã từng gặp mình lúc đi học, đi làm hay đi hội thảo, có lẽ sẽ nhớ là mình luôn có một túi đựng viết rất to, có đủ thứ từ bút mực (đen, xanh, đỏ, mỗi loại ít nhất 2 cây), bút chì (chì gỗ, chì kim), bút xóa, bút dạ quang (đôi ba màu), bút lông kim (ngòi 0.01, 0.1)… tổng cộng khoảng mười mấy cây, thước kẻ, bookmark, tẩy, cộng thêm vài món đồ “thiết yếu” như dập ghim, bấm móng tay (tay mình hay bị xước măng rô), giũa móng tay, xịt thơm miệng (trong trường hợp sau khi ăn không đánh răng được), kem bôi trị côn trùng (mình hay bị côn trùng cắn), dầu gió (phòng khi đau bụng nhức đầu), vài viên kẹo (phòng khi đói)… Mình luôn chuẩn bị cho những cái “lỡ ra” như thế.

    Sau khi xem xong series “Visual Thinking” của chị Anh Dang, mình rất ấn tượng với câu “Less is more”, “càng nhiều càng rối”. Mình tinh giản số lượng bút trong túi xuống còn 2 cây bút mực, 2 cây bút chì, 2 cây viết dạ quang, 1 cây thước, 1 cục tẩy, bỏ vừa gọn trong một cái ví dẹp dẹp xinh xinh. Mình rất hài lòng vì điều đó.

    20841782_1343250079125740_1238130443221526291_n
    Sáng nay mình đi học muộn, luống cuống thế nào, mình đã bỏ quên luôn cả cái ví xinh xắn chứa đầy đủ “công cụ” ở nhà. Mình đã nghĩ: “Thôi rồi, giống chiến sĩ ra trận mà bỏ quên vũ khí quá”. Cảm giác khó chịu vì bất lực (không thể quay về nhà lấy bút, nơi học thì chắc chắn không ai có đầy đủ dụng cụ như của mình) gợn lên như một nếp nhăn trên tấm khăn trải bàn phẳng phiu.

    Mình hít thở sâu, nhớ đến câu nói mà sếp Viet Hung Nguyen từng chia sẻ việc cố gắng ngăn chặn cảm giác khó chịu chính là mình đang bị nó gây tác động, hãy cứ để nó đi vào và đi ra. Vậy nên, mình nghĩ về cái “nếp gấp” khó chịu đó, nhận ra hình như mình đang tập trung vào công cụ để viết (How) thay vì mục đích ghi chép sao cho rõ ràng, dễ nhớ (WHY). Vấn đề ở đây đã chuyển từ “làm sao có đầy đủ công cụ để viết” thành “làm sao để ghi chép một cách tốt nhất với các công cụ đang có?”. Nghĩ tới đây, mình có cảm giác đã nắm lại được quyền kiểm soát, cảm giác khó chịu tan đi, “nếp gấp” lại được vuốt phẳng.

    Mình nhìn quanh: có một cây viết bi của khách sạn. Lục thêm trong balo: có một cây viết mực nước màu xanh dương. Màu sắc có thể bổ sung sau, tạm thời mình có thể ứng biến với layout, bullets, kí hiệu, hình vẽ. Thước kẻ không có, có thể dùng cạnh bút, cạnh sổ, cạnh tập giấy note, điện thoại  =))) Mình nghĩ: “Vậy là đủ xài rồi”, và vui vẻ tập trung toàn ý vào bài giảng.
    Mình cảm thấy rất vui khi đã bớt “chấp”, bớt bám vào đồ vật để tìm kiếm an toàn. Mình nghĩ đến một người bám víu vào cái phao thay vì học cách để bơi. Với trải nghiệm hôm nay, có lẽ mình đã tự bơi được một chút, và giới hạn thế giới của mình lại mở rộng ra thêm một chút.

    17/8/2017