Category: project

  • Về SkillFuture Singapore – Bản đồ chuyển việc

    Bài viết đăng lần đầu ngày 12/5/2021 tại Facebook chính chủ, cập nhật gần nhất ngày 13/9/2026

    2031 | Placeholder | Bởi ai biết 10 năm sau Covid chuyện gì sẽ xảy ra?

    SkillFuture đã cập nhật link, chỉ cho truy cập interactive map nếu có SingPass hoặc cho một số trường hợp đặc biệt (điền form https://form.gov.sg/69489961abca1da6a1943172), nhưng may mắn sao vẫn có thể tiếp cận:

    1. 38 industry/ sector: https://jobsandskills.swda.gov.sg/frameworks/sector-information
    2. Skill framework data set:
      1. cập nhật mỗi QUÝ,
      2. gồm Unique Skill List (~2400 skill), job roles, key tasks, and skills across 38 sectors to support workforce planning…
      3. Tải tại đây: https://jobsandskills.swda.gov.sg/skills-frameworks#download-the-latest-skills-framework-dataset
    3. Supply chain management learning plan: https://jobsandskills.swda.gov.sg/resources/SCM-Skills-Plan.pdf

    Chẳng biết vì lý do nghề nghiệp, hay vì mình là một đứa không có mục tiêu dài hạn, hoặc cả hai, mình rất thường phải đối mặt với câu hỏi: em đang làm việc X muốn đổi qua làm việc Y thì phải làm gì, em chán công việc hiện tại thì giờ em chuyển qua ngành nào khác cho đỡ chán mà ít phải học nhất bây giờ?

    Nếu có dịp, mình rất mong được gặp một anh chị nào đó tư vấn hướng nghiệp, hoặc tốt hơn nữa là được đi học về tư vấn hướng nghiệp để biết nên trả lời câu hỏi đó như thế nào.

    Còn hiện tại, cách mình thường làm là:

    1. Làm rõ ngành/nghề mình muốn hướng đến, thông qua việc tìm và phân tích chừng chục cái job post về ngành đó; đọc job description, tìm gặp các anh chị làm ngành đó

    2. Tự đánh giá kĩ năng của mình qua các bài test, phỏng vấn thử, tham gia khóa học có dự án thực tế

    3. Xác định khoảng cách kĩ năng giữa cái mình đang có và cái cần hướng đến, lên lộ trình học, tìm kiếm cơ hội để được làm công việc đó, chấp nhận cả việc không được trả lương/lương thấp hơn.

    Cũng chính trong quá trình tìm kiếm cơ hội đó, mình được biết đến một trang web của chính phủ Singapore là https://www.ssg.gov.sg/wsq/skills-framework.html, với rất nhiều thông tin hữu ích theo từng nhóm ngành (Infocom, HR, Healthcare…) mà chúng ta có thể cần đến trong hành trình nghề nghiệp:

    – Mô tả công việc, cụ thể đến mức yêu cầu kĩ năng nào cần đạt đến trình độ gì (theo thang 1-6)

    – Lộ trình sự nghiệp, bao gồm cả việc đi lên/ngang/chéo

    – Các chương trình đào tạo liên quan

    – Các mẫu tuyển dụng, phỏng vấn, đánh giá năng lực… cho từng vị trí

    Khi lần đầu tiếp cận với Skill Framework này, thực sự mình có chút ghen tị với các bạn Sing :)) Bởi chính phủ của các bạn đã làm quá tốt việc kết nối giữa người lao động, người sử dụng lao động và trung tâm đào tạo, thông qua việc đề ra một cái chuẩn cho nguồn nhân lực nước mình. Mình cũng thầm mong một ngày nào đó Việt Nam cũng sẽ có giải pháp toàn diện như vậy, còn với bản thân mình trong hiện tại, skill framework này đem đến cho mình một gợi ý đủ rõ ràng để mình tiếp tục con đường học tập trong một thế giới mà các kĩ năng cũ liên tục bị lỗi thời, các kĩ năng mới cần liên tục cập nhật, và rất nhiều công việc mới đang được sinh ra.

    Link tới bài viết cũ về Onet Online: https://www.facebook.com/photo?fbid=1872182099565866&set=a.1339645262819555

    Skill Framework của

    – Healthcare: https://www.skillsfuture.gov.sg/skills-framework/hc

    – HR: https://www.skillsfuture.gov.sg/skills-framework/hr

    – Infocom (information and communication(s) technology): https://www.skillsfuture.gov.sg/skills-framework/ict

    Critical Core Skills: https://www.skillsfuture.gov.sg/skills…/criticalcoreskills

  • Chuyện tìm nhà cung cấp vật tư

    Tụi mình kí hợp đồng thầu phần thô nhân công hoàn thiện, có nghĩa là tới đoạn hoàn thiện thì tụi mình sẽ phải tự tìm vật tư và tập kết cho anh thầu thi công. Với mỗi hạng mục tụi mình thường tìm ít nhất 3 vendor vào shortlist.

    Tới đây phát sinh mấy chuyện:

    1. Quy cách vật tư

    2. Khối lượng vật tư

    3. Thời gian tập kết

    4. Trình độ thi công của nhóm thợ

    Cụ thể từng mục ha:

    1. Quy cách vật tư thì phải nói là một rừng, mà ngành xây dựng thì đặc trưng là không có làm remote được. Để tiết kiệm thời gian, tụi mình chia nhau làm “bài tập về nhà”, tìm hiểu, xác định kịch bản đi coi vật tư (coi cái gì, nói cái gì với nhà cung cấp để có nhiều thông tin nhất), dạy lại cho nhau, rồi sắp xếp để mỗi ngày chạy một khu (sơ sơ thì đã chạy khu Q9, Q12, Tân Bình, có khu Q8 là chưa chạy qua thôi).

    2. Khối lượng vật tư: đoạn này tụi mình bị làm ngược, đi vài nhà cung cấp, bị họ hỏi một số câu về khối lượng vật tư để báo giá tốt (đơn giá thay đổi tùy theo khối lượng) thì lúc đó cả 2 đứa đều chưa làm “bài tập”, nên chỉ có thể đưa con số sơ bộ và coi chất liệu, rồi về nhà làm, báo lại nhà cung cấp qua Zalo. Nhưng có vài thứ rất khó tính nếu không có chuyên môn (gạch thì có %hao hụt tùy chất gạch và kích thước, sơn thì lại phân ra nội ngoại thất etc…) nên nằm vắt tay nghĩ mấy đêm về stakeholder matrix, cộng thêm tư vấn từ anh giám sát, tụi mình quyết định cứ để cho anh thầu báo số lượng vật tư, đồng thời so với 1/ số tụi mình tự tính, và 2/ số của bên bán gạch tính. Bạn nhà mình bớt nhức đầu =))

    3. Thời gian tập kết: nhà mình bé xíu nên không có mặt bằng sẵn, do đó phải tính toán thời gian tập kết vật liệu thật kĩ. Ban đầu nhà cũng có vài trục trặc liên quan đến tập hợp nhóm thợ sau tết nên bị chậm, lại phải dí anh thầu đưa cái bảng tiến độ dự kiến, và chốt thời gian để có mặt bằng. Lại tiếp tục quay sang nhà cung cấp, thương lượng là chốt đơn nhưng chưa gửi hàng, chờ báo (+1 mục phải theo dõi).

    Một số hạng mục sẽ phải đo trực tiếp tại công trường (nội thất, cửa, bếp…) nên cũng phải dựa trên tiến độ dự để hẹn với nhà cung cấp, trong lúc đó có thể coi chất liệu, thiết kế, mẫu. Để tiết kiệm thời gian thì có thể lấy catalogue tìm hiểu trước.

    4. Trình độ thi công của nhóm thợ cũng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định chọn vật tư. Từ ý tưởng đến hiện thực, từ vẽ đến xây luôn có khoảng cách. Tụi mình luôn check với anh thầu và anh giám sát rằng vật liệu như vậy thì thi công có vấn đề gì không, có thể phát sinh chi phí những chỗ nào (ví dụ, vật liệu có thời gian chờ dài dẫn đến bị kéo dài tiến độ, gạch to hơn thì thợ phải cẩn thận hơn do dễ bể, etc…)

    Giang Nguyễn, 30/3/2026

    (Bài gốc đã đăng trên FB chính chủ)

  • Học chậm #6: Học một chủ đề mới toanh như thế nào?

    TL, DR:

    • Giới thiệu 2 tool chính mình thường dùng để học các chủ đề mới được nhanh chóng: Taxonomy và Abductive reasoning
    • Bàn về động lực học và một số cách mình học

    Mình thường nhận được những câu cảm thán như vầy:

    1. “Sao em biết nhiều quá vậy?” (Underlying: Mà nhiều thứ trời ơi đất hỡi ghê :v)
    2. “Biết nhiều vậy để chi?” (Underlying: Rảnh quá hông có việc gì khác làm ha?)

    Mình cũng nghĩ nhiều về cái đó lắm, nên nay mình thử viết xuống để tự trả lời hai câu đó coi sao.

    Câu 1: Sao em biết nhiều quá vậy?

    Mình có 2 biệt danh mà người khác đặt cho, 1 là Giang Google, 2 là Giang Sherlock. (Còn tự đặt chắc mình chỉ tự đặt cái tên Gấu Xù, chứ nào dám tự ghép tên mình với 2 cái đại thụ như vậy).

    Giang Google là biệt danh ở nhóm đồng nghiệp làm đào tạo (Learning & Development – L&D). Ban đầu mình khá ngại với biệt danh này nhưng qua thời gian thì mình cảm thấy cái tên đó cũng hợp lý, vì những cái mình biết thì mình Google là chính 😛 Thành quả là gì? Mình biết khá nhiều thứ trời ơi đất hỡi, và mình cực vui khi tìm thấy sự liên kết giữa những thứ tưởng chừng chẳng liên quan gì đến nhau. Bạn lục trong WordPress mình sẽ thấy, ví dụ, Tarot & problem solving, thú bông và nghề săn bắn…

    Công cụ chính mà Giang Google dùng là Taxonomy – bảng phân loại, để cổ kết nối các ý tưởng mới trên cái cây phân loại có sẵn của cổ, giúp cổ bớt cảnh “râu ông nọ cắm cằm bà kia” 😉

    Biệt danh thứ hai, mới có gần đây thôi, là Giang Sherlock. Vì mình khoái cách mà Sherlock xây giả thuyết, rồi tìm dẫn chứng, rồi lại phản biện nó, rất là khoa học. Mình kể về việc mình áp dụng cách tương tự trong một cuộc phỏng vấn, và bác interviewer có vẻ khoái nó lắm =)) Cũng đúng ha, làm data, làm business analyst, thì cũng là đi thu thập thông tin, xây dựng giả thuyết để trả lời một câu hỏi, rồi tìm dẫn chứng để chấp thuận/phản đối giả thuyết. Bác interviewer (nay là functional manager của mình) đã mô tả mình vầy: “She is the kind of person who will shake every branch of the tree to find the answer”.

    Và cũng như Sherlock, công cụ chính mình dùng là Abductive Reasoning. Nó là tư duy quy nạp, nhưng có tính đến fuzzy logic. Nó không “chết cứng” trong các giả thiết, mà luôn cởi mở để thay đổi kết luận khi có dẫn chứng mới.

    Mình để một số link tham khảo ở đây:


    Câu hỏi thứ hai, “Biết nhiều vậy để chi?”.

    Thực ra, mình không biết. Đến tận bây giờ, những câu hỏi “em sẽ là ai trong 5-10 năm tới” vẫn luôn khiến mình băn khoăn mà. Chắc cảm giác băn khoăn đó lớn quá, nên mình vẫn đang học hoài để coi mình có thể là ai.

    Việc học, theo mình có hai yếu tố:

    1. Muốn học
    2. Kĩ năng học

    Mục số 1, nếu ai đó hỏi là sao mình có động lực học, trước thì mình chỉ có thể trả lời là mình tò mò, kiểu, tự nhiên nó vậy. Sau này mình phát hiện ra mình tự học nhiều qua sách vở vì khi còn nhỏ mình ít bạn, anh chị thì lớn, không có mấy dịp được trò chuyện với người, mà nhà mình lẫn nhà bác có sẵn mấy bộ bách khoa thư cho trẻ em nên mình đọc giải khuây, được khen là “có vẻ ham học”, lâu dần thì hình thành thói quen đọc văn bản dài, mà đọc nhiều thì có sẵn câu trả lời trong đầu cho mấy câu đố dạng trivia, được khen tiếp, lại đọc tiếp, tới một ngày không ai khen cũng đọc, cũng học =)) Gần đây mình hay đùa là nếu em có người chơi cùng, chắc em không đọc nhiều dữ vậy, mệt lắm.

    Mục số 2, về kĩ năng học, đặc biệt là học những thứ mới, thì vài kĩ năng mình hay áp dụng và thấy hiệu quả là vầy:

    1. Browse: áp dụng khi mình rảnh và có sẵn một cái kho (ví dụ, intranet, thư viện), mình cứ tìm theo tên người, theo phòng ban, xem thử nghiệp vụ của họ là gì, plan các năm qua, meeting minutes, etc. Kết quả của việc này là mình có một bức tranh đại khái về việc người ta làm, các outcome là gì…
    2. Search: áp dụng khi mình có ít thời gian và/hoặc có từ khóa. Mình sẽ bắt một từ khóa rồi mở rộng trường từ vựng, xây một cái Taxonomy. ví dụ: martech -> digital marketing -> marketing strategy, etc. Khi mình đã mở rộng được đến từ vựng đủ “bự” để coi là một chuyên ngành thì tìm đến các hiệp hội hoặc text book/ syllabus của trường đại học để hiểu về standard của ngành.
    3. Translate, Map & Modelling: Việc tiếp theo, là dịch ngôn ngữ của người ta thành ngôn ngữ của mình. Mình thường dùng vài model đơn giản, ví dụ: Quá khứ – Hiện tại – Tương lai; Input – Process – Output; Ý kiến – Data – Hành động; Bức tranh nhỏ – bức tranh lớn; Zoom in – Zoom out; … Mình có xu hướng dùng những ẩn dụ/ metaphor mà đa số người ta ít nhiều quen thuộc ví dụ như nấu ăn, dùng bản đồ, xây nhà…
    4. Validate với chuyên gia: sau khi có trong tay: vấn đề chính của ngành, quy trình, landscape…, mình sẽ tìm cách nói chuyện với một chuyên gia trong ngành gần nhất mà mình có thể tiếp cận để xem mình có thực sự hiểu đúng, và các trend gần nhất là gì.
    5. Làm: Tìm một dự án gì đó để làm, hoặc tổng hợp cái mình biết thành một bài viết. Tìm cách mô tả nó bằng ngôn ngữ đơn giản hơn, vui vẻ hơn. (Đây là cách của Feymann á).

    Cuối cùng thì, nhiều khi việc học được xem là một thứ xa xỉ, chính bởi vì người học cũng có khi chẳng biết học để làm chi. Bởi con người sẽ bị bức bối nếu không làm gì, nên để xoa dịu sự bất an đó, mình học. Và sự học đó, có khi đến khi học xong thì cũng đã lỗi thời. Thế nên mình xem việc học như tập thể dục, cũng tốt mà ha.

    (Bài này bắt đầu viết từ tháng 2/2025 và viết xong nhân ngày quốc tế lao động 1/5/2025. Năm ngoái giờ này mình đang đi chơi biển, năm nay mình cũng đi chơi biển 😛 Là lao động dữ chưa?)

  • Học chậm #6: Học một chủ đề mới toanh như thế nào?

    TL, DR:

    • Giới thiệu 2 tool chính mình thường dùng để học các chủ đề mới được nhanh chóng: Taxonomy và Abductive reasoning
    • Bàn về động lực học và một số cách mình học

    Mình thường nhận được những câu cảm thán như vầy:

    1. “Sao em biết nhiều quá vậy?” (Underlying: Mà nhiều thứ trời ơi đất hỡi ghê :v)
    2. “Biết nhiều vậy để chi?” (Underlying: Rảnh quá hông có việc gì khác làm ha?)

    Mình cũng nghĩ nhiều về cái đó lắm, nên nay mình thử viết xuống để tự trả lời hai câu đó coi sao.

    Câu 1: Sao em biết nhiều quá vậy?

    Mình có 2 biệt danh mà người khác đặt cho, 1 là Giang Google, 2 là Giang Sherlock. (Còn tự đặt chắc mình chỉ tự đặt cái tên Gấu Xù, chứ nào dám tự ghép tên mình với 2 cái đại thụ như vậy).

    Giang Google là biệt danh ở nhóm đồng nghiệp làm đào tạo (Learning & Development – L&D). Ban đầu mình khá ngại với biệt danh này nhưng qua thời gian thì mình cảm thấy cái tên đó cũng hợp lý, vì những cái mình biết thì mình Google là chính 😛 Thành quả là gì? Mình biết khá nhiều thứ trời ơi đất hỡi, và mình cực vui khi tìm thấy sự liên kết giữa những thứ tưởng chừng chẳng liên quan gì đến nhau. Bạn lục trong WordPress mình sẽ thấy, ví dụ, Tarot & problem solving, thú bông và nghề săn bắn…

    Công cụ chính mà Giang Google dùng là Taxonomy – bảng phân loại, để cổ kết nối các ý tưởng mới trên cái cây phân loại có sẵn của cổ, giúp cổ bớt cảnh “râu ông nọ cắm cằm bà kia” 😉

    Biệt danh thứ hai, mới có gần đây thôi, là Giang Sherlock. Vì mình khoái cách mà Sherlock xây giả thuyết, rồi tìm dẫn chứng, rồi lại phản biện nó, rất là khoa học. Mình kể về việc mình áp dụng cách tương tự trong một cuộc phỏng vấn, và bác interviewer có vẻ khoái nó lắm =)) Cũng đúng ha, làm data, làm business analyst, thì cũng là đi thu thập thông tin, xây dựng giả thuyết để trả lời một câu hỏi, rồi tìm dẫn chứng để chấp thuận/phản đối giả thuyết. Bác interviewer (nay là functional manager của mình) đã mô tả mình vầy: “She is the kind of person who will shake every branch of the tree to find the answer”.

    Và cũng như Sherlock, công cụ chính mình dùng là Abductive Reasoning. Nó là tư duy quy nạp, nhưng có tính đến fuzzy logic. Nó không “chết cứng” trong các giả thiết, mà luôn cởi mở để thay đổi kết luận khi có dẫn chứng mới.

    Mình để một số link tham khảo ở đây:


    Câu hỏi thứ hai, “Biết nhiều vậy để chi?”.

    Thực ra, mình không biết. Đến tận bây giờ, những câu hỏi “em sẽ là ai trong 5-10 năm tới” vẫn luôn khiến mình băn khoăn mà. Chắc cảm giác băn khoăn đó lớn quá, nên mình vẫn đang học hoài để coi mình có thể là ai.

    Việc học, theo mình có hai yếu tố:

    1. Muốn học
    2. Kĩ năng học

    Mục số 1, nếu ai đó hỏi là sao mình có động lực học, trước thì mình chỉ có thể trả lời là mình tò mò, kiểu, tự nhiên nó vậy. Sau này mình phát hiện ra mình tự học nhiều qua sách vở vì khi còn nhỏ mình ít bạn, anh chị thì lớn, không có mấy dịp được trò chuyện với người, mà nhà mình lẫn nhà bác có sẵn mấy bộ bách khoa thư cho trẻ em nên mình đọc giải khuây, được khen là “có vẻ ham học”, lâu dần thì hình thành thói quen đọc văn bản dài, mà đọc nhiều thì có sẵn câu trả lời trong đầu cho mấy câu đố dạng trivia, được khen tiếp, lại đọc tiếp, tới một ngày không ai khen cũng đọc, cũng học =)) Gần đây mình hay đùa là nếu em có người chơi cùng, chắc em không đọc nhiều dữ vậy, mệt lắm.

    Mục số 2, về kĩ năng học, đặc biệt là học những thứ mới, thì vài kĩ năng mình hay áp dụng và thấy hiệu quả là vầy:

    1. Browse: áp dụng khi mình rảnh và có sẵn một cái kho (ví dụ, intranet, thư viện), mình cứ tìm theo tên người, theo phòng ban, xem thử nghiệp vụ của họ là gì, plan các năm qua, meeting minutes, etc. Kết quả của việc này là mình có một bức tranh đại khái về việc người ta làm, các outcome là gì…
    2. Search: áp dụng khi mình có ít thời gian và/hoặc có từ khóa. Mình sẽ bắt một từ khóa rồi mở rộng trường từ vựng, xây một cái Taxonomy. ví dụ: martech -> digital marketing -> marketing strategy, etc. Khi mình đã mở rộng được đến từ vựng đủ “bự” để coi là một chuyên ngành thì tìm đến các hiệp hội hoặc text book/ syllabus của trường đại học để hiểu về standard của ngành.
    3. Translate, Map & Modelling: Việc tiếp theo, là dịch ngôn ngữ của người ta thành ngôn ngữ của mình. Mình thường dùng vài model đơn giản, ví dụ: Quá khứ – Hiện tại – Tương lai; Input – Process – Output; Ý kiến – Data – Hành động; Bức tranh nhỏ – bức tranh lớn; Zoom in – Zoom out; … Mình có xu hướng dùng những ẩn dụ/ metaphor mà đa số người ta ít nhiều quen thuộc ví dụ như nấu ăn, dùng bản đồ, xây nhà…
    4. Validate với chuyên gia: sau khi có trong tay: vấn đề chính của ngành, quy trình, landscape…, mình sẽ tìm cách nói chuyện với một chuyên gia trong ngành gần nhất mà mình có thể tiếp cận để xem mình có thực sự hiểu đúng, và các trend gần nhất là gì.
    5. Làm: Tìm một dự án gì đó để làm, hoặc tổng hợp cái mình biết thành một bài viết. Tìm cách mô tả nó bằng ngôn ngữ đơn giản hơn, vui vẻ hơn. (Đây là cách của Feymann á).

    Cuối cùng thì, nhiều khi việc học được xem là một thứ xa xỉ, chính bởi vì người học cũng có khi chẳng biết học để làm chi. Bởi con người sẽ bị bức bối nếu không làm gì, nên để xoa dịu sự bất an đó, mình học. Và sự học đó, có khi đến khi học xong thì cũng đã lỗi thời. Thế nên mình xem việc học như tập thể dục, cũng tốt mà ha.

    (Bài này bắt đầu viết từ tháng 2/2025 và viết xong nhân ngày quốc tế lao động 1/5/2025. Năm ngoái giờ này mình đang đi chơi biển, năm nay mình cũng đi chơi biển 😛 Là lao động dữ chưa?)